Hiển thị các bài đăng có nhãn qui nhon. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn qui nhon. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 29 tháng 11, 2011

VỀ MIỀN ĐẤT VÕ BÌNH ĐỊNH

Võ cổ truyền hay võ Bình Định:
Nếu người phương xa nào hỏi ở quê hương Bình Định có di sản phi vật thể nào đã trở thành niềm tự hào lớn nhất của người dân? Chúng tôi sẽ trả lời không chút do dự về “di sản không thể mất” - Võ Bình Định. Tại sao võ Bình Định là di sản độc đáo và không thể đánh mất? Chúng tôi đã đi tìm những căn cứ chứng minh cho nhận định này.

Luyện tập võ tại võ đường Lý Xuân Hỷ (thị trấn Đập Đá, huyện An Nhơn).

* Định danh một khái niệm
Khi chúng tôi quyết định gọi ngắn gọn hơn võ cổ truyền Bình Định thành “võ Bình Định”, chắc hẳn có rất nhiều người không đồng tình. Thế nhưng với góc nhìn riêng, đã tìm hiểu khá nhiều tư liệu nghiên cứu về các dòng võ trên mảnh đất Bình Định, gặp gỡ nhiều nhân vật trong làng võ Bình Định… chúng tôi dùng tên võ Bình Định.
Xét về ý nghĩa chuẩn xác, khi gọi tên “võ cổ truyền Bình Định” tức là sự “giới hạn riêng” về những dòng võ từ rất lâu đời chỉ có ở vùng đất Bình Định, hiện vẫn được bảo tồn một cách nguyên gốc. Đây là vấn đề đến nay vẫn cần có một công trình nghiên cứu khoa học thực sự bài bản và quy mô để xác định.
Trong suốt chiều dài lịch sử, mảnh đất Bình Định là nơi hình thành, phát triển, giao thoa nhiều dòng võ cổ truyền khác nhau. Có một số võ sư Bình Định đã từng tầm sư học võ thêm ở ngoài tỉnh để nâng cao hơn kiến thức võ thuật. Vì vậy tên gọi võ Bình Định mang tính rộng mở, thể hiện được sự đa dạng của các yếu tố cấu thành: võ cổ truyền đặc trưng của Bình Định, các dòng võ cổ truyền khác được phát triển trên đất Bình Định, sự sáng tạo võ thuật mới trên nền tảng tiếp nhận võ cổ truyền của các thế hệ người học võ ở Bình Định. Hay nói một cách cụ thể hơn, tên gọi võ Bình Định nhấn mạnh địa danh “Bình Định” hơn yếu tố “võ”. Điều này nhằm khẳng định văn hóa – lịch sử của vùng đất Bình Định là yếu tố quan trọng tạo nên sự hội tụ nhiều thế hệ nhân tài võ học, đã phát triển các dòng võ thuật cổ truyền một cách linh hoạt, đa dạng và tươi mới.
* Di sản quý báu
Khi so sánh võ Bình Định với các loại hình di sản văn hóa phi vật thể của các địa phương trong cả nước, chúng ta có thể tự hào khi hiếm di sản nào có được sự kết hợp “văn hóa – thể thao” mang bề dày lịch sử, trải dài qua nhiều thế kỷ như võ Bình Định. Sự ra đời, tồn tại và phát triển của võ Bình Định gắn liền với từng giai đoạn phát triển của lịch sử dân tộc Việt Nam. Khi nói đến nguồn gốc của võ Bình Định, cần phải kể đến những mốc lịch sử quan trọng mà từ đó võ Bình Định ra đời, được nuôi dưỡng và phát triển rực rỡ, cũng như cách thức tồn tại cho đến ngày nay dù trải qua những giai đoạn bị đàn áp. Có thể chia ra những mốc thời gian gắn với từng bước ngoặt quan trọng trong quá trình phát triển của võ Bình Định: thời kỳ vương triều Chămpa, Bình Định thành đất phên dậu của Đại Việt, thời Tây Sơn, thời nhà Nguyễn, thời kỳ kháng chiến giành độc lập, thời kỳ sau giải phóng đến nay.

Đội tuyển võ cổ truyền Bình Định được mời ra Hà Nội biểu diễn chào mừng Đại lễ 1.000 năm Thăng Long – Hà Nội.
Sự độc đáo của võ Bình Định là vừa có sự đa dạng chung nhờ hội tụ được các dòng võ thuật khác nhau, vừa có đặc trưng riêng được đánh giá rất cao. Điểm nhấn độc đáo nhất giúp cho võ Bình Định đi vào lịch sử và tình cảm ngưỡng mộ của dân tộc Việt Nam đó là “tính nhân văn”. Người học võ Bình Định luôn thấm nhuần võ đạo, đề cao việc rèn luyện đạo đức, tinh thần trượng nghĩa giúp đời. Thời kỳ Tây Sơn, người học võ Bình Định được tập hợp để cùng nhau đạt đến cao trào trong ý nghĩa quật cường và chính khí. Sự xuất hiện của hàng loạt võ nhân xuất sắc ở cương vị tướng lĩnh lãnh đạo nghĩa quân Tây Sơn, đã lập nên những chiến công vang dội lịch sử chống giặc ngoại xâm. Thời Cần Vương, nhiều người Bình Định tuy mặc áo quan văn nhưng khi cần, họ có thể sử dụng võ thuật cứu nước hộ dân như Đào Doãn Địch, Mai Xuân Thưởng, Lê Thượng Nghĩa, Đặng Đề, Nguyễn Trọng Trì. Lãnh đạo các phong trào yêu nước chống Pháp tại Bình Định, Phú Yên và một số tỉnh Nam Bộ cũng là các võ nhân quê Bình Định như Võ Trứ, Tăng Bạt Hổ, Nguyễn Trung Trực, Võ Duy Dương...
Võ Bình Định trong cuộc kháng chiến giành độc lập tự do dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản cũng phát huy được sức mạnh của nó. Thành viên các đội tự vệ Đỏ, Xích Vệ công nông cướp chính quyền năm 1945 ở Bình Định hầu hết là võ sĩ của các làng võ như: Võ Xán, Trần Quang Khanh, Nguyễn Trân, Nguyễn Bút, Huỳnh Dinh, Lê Hồng Sơn, Nguyễn Trung Tín (sau này là Bí thư Tỉnh ủy Bình Định), Tô Đình Cơ (sau này là Chủ tịch UBND tỉnh Bình Định). Đường kiếm 12 hay bài kiếm 12 nổi tiếng trong kháng chiến chống Pháp, thực chất là 12 thế kiếm do Nguyễn Trọng Tạo chắt lọc từ các thế võ Bình Định, sau này phổ biến rộng rãi trong dân quân và bộ đội Khu 5. Võ Bình Định đã được các tiểu đoàn đặc công 30, tiểu đoàn đặc công số 10 trên địa bàn Bình Định phát huy hiệu quả. Các đặc công trinh sát đều được dạy các thế võ trói địch không cần dùng dây. Đây chính là một trong những thế độc chiêu của võ Bình Định, tương truyền là được tiếp nhận từ võ thuật thời Chămpa.
* Một “thương hiệu” có giá trị
Sức sống mãnh liệt gắn liền với truyền thống văn hóa - lịch sử của một vùng đất địa linh nhân kiệt đã khiến võ Bình Định trở thành “thương hiệu” nổi tiếng, đi sâu vào tiềm thức của người dân Việt Nam qua bao nhiêu thế hệ. Xin được minh chứng phần nào bằng hai câu chuyện chúng tôi đã được nghe nhân vật trực tiếp kể lại. Câu chuyện thứ nhất diễn ra trên nước Mỹ xa xôi, khi một cụ già Việt kiều trên 80 tuổi gặp mặt một đồng hương là người Bình Định, thì câu chào hỏi đầu tiên đã bày tỏ sự ngưỡng mộ thật lòng: “Người Bình Định giỏi võ và anh hùng lắm !”. Câu chuyện thứ hai là về người đàn ông gần 40 tuổi ở miền Bắc đi tham quan và thưởng thức nhạc võ ở Bảo tàng Quang Trung, đã tự hào và xúc động rơi nước mắt khi thấy các nữ võ sĩ biểu diễn…
Thương hiệu võ Bình Định cũng phát huy giá trị thực tiễn cao, khi đã trở thành “cầu nối” quảng bá rộng rãi về đất nước và con người Bình Định. Điều này đã được thể hiện rõ nhất qua 3 lần đăng cai tổ chức Liên hoan Quốc tế võ cổ truyền Việt Nam: Lần thứ I (năm 2006) thu hút 37 đoàn quốc tế đến từ 21 quốc gia và vùng lãnh thổ, 21 đoàn trong nước. Lần thứ II (năm 2008) thu hút 73 đoàn đến từ 26 quốc gia. Lần thứ III (năm 2010) thu hút 70 đoàn đến từ 30 quốc gia và vùng lãnh thổ. Thử hỏi nếu không phải là võ Bình Định, thì sự kiện nào ở tỉnh nhà có thể tạo được sức thu hút và lan tỏa rộng rãi như vậy. Chất lượng của thương hiệu võ Bình Định cũng đang được gìn giữ tốt. Võ cổ truyền chính là môn thể thao mũi nhọn đem về nhiều thành tích cao cho ngành TDTT Bình Định. Võ Bình Định cũng đã, đang, sẽ đóng góp tích cực vào việc rèn luyện sức khỏe của hàng chục ngàn người dân trong và ngoài tỉnh tham gia luyện tập hàng năm.
Những điều nói trên đã tạo nên “giá trị” cho thương hiệu võ Bình Định trong nước và quốc tế. Giá trị này còn có thể phát huy tốt hơn nữa trong thực tiễn, nếu có kế hoạch phát triển và khai thác một cách khoa học. Do đó, võ Bình Định là di sản không thể đánh mất...


Mạnh mẽ “dòng chảy” võ Bình Định

Trải qua bao thăng trầm, võ Bình Định đã hòa vào tâm hồn người Bình Định để tồn tại và phát triển linh hoạt, đa dạng tùy theo tình hình thực tế của đời sống xã hội. “Dòng chảy” võ Bình Định vẫn còn mạnh mẽ tại nhiều địa phương trong tỉnh.

Lão võ sư Phan Thọ (bìa trái) tâm sự: “Những năm trước tập ngoài sân nên mùa mưa phải nghỉ. Năm nay, tôi cố gắng dành dụm ít tiền làm phòng tập này. Sức khỏe đã giảm sút nhiều, nhưng tôi vẫn tranh thủ truyền dạy học trò…”.

* Khẳng định tiếng thơm đất Võ
Trong quá trình đi khảo sát thực tế, chúng tôi nhận thấy tại các địa phương có phong trào luyện tập võ cổ truyền phát triển mạnh như An Nhơn, Tây Sơn, Tuy Phước, Hoài Nhơn, TP Quy Nhơn đều có trên dưới 10 võ đường, CLB đang hoạt động. Tuy không mạnh như các địa phương vừa kể đến, nhưng các huyện Phù Cát, Phù Mỹ, Hoài Ân vẫn còn một số võ đường hoạt động. Tại Giải võ cổ truyền các CLB tỉnh Bình Định năm 2010, có đến gần 300 VĐV của 39 CLB, võ đường tham dự.
Tại các giải thi đấu quốc gia trong nhiều năm qua, các VĐV võ cổ truyền Bình Định luôn giữ vững được thành tích cao. Ngoài ra, tại các giải thi trẻ toàn quốc diễn ra hàng năm, các VĐV trẻ của võ cổ truyền Bình Định cũng đem về hàng trăm huy chương các loại, góp phần khẳng định danh tiếng miền đất Võ.
Trong suốt 20 năm qua, các đoàn võ cổ truyền Bình Định cũng đã thường xuyên tham dự các cuộc liên hoan, thi đấu quốc tế tại các nước Nga, Thụy Sỹ, Angiêri, Hàn Quốc, Rumani, Ý. Ngoài thi đấu biểu diễn, một số nước còn mời các võ sư Bình Định sang truyền dạy. Đến nay, võ Bình Định đã được phổ biến ở nhiều quốc gia trên thế giới.
* Các lão võ sư một đời “giữ lửa”
Từ sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng đến nay, việc bảo tồn và phát triển võ Bình Định có những đóng góp rất lớn của các lão võ sư Bình Định.
Tìm đến nhà võ sư Phan Thọ (86 tuổi, huyện Tây Sơn) vào một buổi sáng trời mưa lạnh, thật ngạc nhiên khi thấy ông đang hăng say hướng dẫn học trò trong căn phòng tập đơn sơ trống hoác gió lùa. Ngay tại nhà lão võ sư Phan Thọ, hiện có gần chục học trò ở nhiều địa phương trong và ngoài tỉnh đang rèn luyện. Anh Võ Minh Trí (21 tuổi, quê ở Đồng Nai), cho biết: “Tôi nghe danh tiếng lão võ sư Phan Thọ và tìm tới xin học đã hơn hai năm. Tôi được thầy truyền dạy liên tục mỗi ngày ba buổi, nên đã luyện đánh được gần hết 18 món binh khí tiêu biểu của võ Bình Định… Ở cạnh thầy, tôi còn học được cách đối nhân xử thế nữa!”.

Toàn tỉnh hiện có 58 võ sư, 27 chuẩn võ sư, 115 HLV võ cổ truyền. Trong đó, có hơn 90 võ sư, huấn luyện viên duy trì hoạt động truyền dạy, tổ chức hoạt động thường xuyên cho hơn 3.000 võ sinh, con số này có thể tăng lên 8.000 - 10.000 võ sinh vào dịp hè. Trọng tài võ cổ truyền cấp quốc gia có 7 người, cấp tỉnh 62 người, cấp huyện 120 người.
Khoảng sân nhỏ trước nhà lão võ sư Phi Long Vịnh (74 tuổi, huyện Tuy Phước) đã in dấu bao thế hệ học trò trong suốt bao nhiêu năm qua. Võ sư Phi Long Vịnh vẫn còn đủ sức biểu diễn những đòn thế, bài võ đầy uy lực, nên thường xuyên được mời tham gia các sự kiện võ thuật lớn của tỉnh. Thỉnh thoảng, ông còn nhận lời sang châu Âu quảng bá võ Bình Định. Năm 2007, ông được Hiệp hội Quán Khí Đạo quốc tế tại Ý trân trọng trao tặng bằng Đại danh sư võ thuật.
Võ sư Lý Xuân Hỷ (71 tuổi, huyện An Nhơn) là người có nhiều cống hiến cho sự nghiệp phát triển võ Bình Định. Khi chúng tôi đến, ông đang bận rộn với việc xây nhà mới, nhưng mỗi buổi chiều vẫn dành thời gian dạy học trò ở khoảnh sân rộng phía sau nhà. “Mùa mưa thì ít, chứ mùa hè các em đến học kín cả sân. Chỉ cần các bạn trẻ hôm nay đam mê, các võ sư lớn tuổi như tôi luôn phấn khởi truyền dạy hết lòng…”- võ sư Hỷ bộc bạch.
Võ sư Lê Xuân Cảnh (71 tuổi, huyện An Nhơn) không chỉ đào tạo võ thuật, mà còn hướng học trò tham gia các hoạt động phục vụ cộng đồng như múa lân, thi đấu cờ người nên thu hút đông đảo bạn trẻ…

Võ đường Lê Xuân Cảnh (xã Nhơn Hưng, huyện An Nhơn) tổ chức nhiều hoạt động đa dạng thu hút đông võ sinh tập luyện.
* Tiếp nối truyền thống
Trong 5 năm gần đây, Hoài Nhơn luôn là một trong những đơn vị mạnh ở các giải võ cổ truyền toàn tỉnh, đặc biệt là ở nội dung đối kháng. Hiện nay, môn phái Bình Nhơn đạo (do cố võ sư Thanh Tú sáng lập) đóng góp tích cực cho phong trào võ cổ truyền.
Võ sư Thanh Hùng (con trai võ sư Thanh Tú) cùng hai người chú ruột là các võ sư Thanh Ca, Thanh Lương trong những năm qua đã đào tạo nhiều võ sinh xuất sắc. Hiện, võ sư Thanh Hùng cố gắng duy trì nhiều lớp học với tổng cộng chừng 200 võ sinh. Ông cũng là võ sư duy nhất còn dạy nội dung biểu diễn ở Hoài Nhơn. Cách đây 3 năm, được phép thầy, một đệ tử của võ sư Thanh Lương là Phan Huỳnh Thi cũng mở CLB riêng mang tên Thanh Thiên. Đây là CLB có sự đầu tư bài bản nhất về cơ sở vật chất, thiết bị tập luyện. Và CLB Thanh Thiên đã đoạt được nhiều thành tích ấn tượng.
Tại huyện Tây Sơn, CLB Hồ Bé xứng đáng là cánh chim đầu đàn khi đã đoạt cúp vô địch đối kháng tại các Giải võ cổ truyền các CLB tỉnh năm 2006, 2007, 2010. Riêng tại giải năm 2010, CLB Hồ Bé còn đoạt cờ CLB xuất sắc nhất. Võ sư Hồ Bé cho biết: “Võ đường chúng tôi phát triển vững mạnh là nhờ hoạt động ở làng võ Thuận Truyền, người dân có truyền thống luyện tập võ thuật. Từ số lượng võ sinh tập luyện khá đông, chúng tôi phát hiện, tuyển chọn các em có năng khiếu đưa vào luyện tập thường xuyên tại các lớp riêng, chuyên luyện thi đối kháng, biểu diễn…”.
Tại TP Quy Nhơn, CLB Nguyễn Thanh Vũ ở Nhà văn hóa Lao động tỉnh khẳng định thế mạnh dẫn đầu ở nội dung hội thi biểu diễn tại các giải tỉnh, mới đây nhất là Cúp vô địch hội thi tại Giải võ cổ truyền các CLB toàn tỉnh năm 2010. CLB Nguyễn Thanh Vũ cũng là địa chỉ đào tạo võ cổ truyền thu hút đông người học nhất tại TP Quy Nhơn.
Ở huyện An Nhơn, ngoài một số võ đường đã khẳng định thế mạnh về nội dung đối kháng như Lý Xuân Hảo, Đỗ Văn Tuấn, còn xuất hiện thêm võ đường Lý Xuân Vân, Đỗ Văn Út… đoạt thành tích cao khi tham gia Giải võ cổ truyền các CLB toàn tỉnh năm 2010, nhờ vậy đã giành được giải nhất toàn đoàn.
Tại huyện Tuy Phước, phong trào luyện tập võ cổ truyền cũng phát triển mạnh, đi đầu là các điểm tập luyện của võ sư Phi Long Vinh, HLV Kim Huệ… Còn ở huyện miền núi, trung du như Hoài Ân, phong trào luyện tập võ cổ truyền tuy còn nhiều khó khăn nhưng vẫn tương đối sôi nổi và gặt hái được khá nhiều thành tích nhờ hoạt động của hai võ đường do các hậu duệ của võ sư Trần Học là võ sư Trần Quý Ba, Trần Quý Trị dẫn dắt.
Tiếp nối truyền thống, các thế hệ võ sư, huấn luyện viên trẻ tuổi đã nỗ lực đưa phong trào luyện tập võ cổ truyền phát triển sâu rộng tại nhiều địa phương trong tỉnh. “Dòng chảy” võ Bình Định vì thế hiện vẫn còn đang rất mạnh mẽ trong lòng nhân dân…

Nhìn lại công tác tuyển chọn, đào tạo VĐV

Kế tục truyền thống của các võ sư, võ sĩ thời trước, các thế hệ nối tiếp của võ Bình Định đã làm rạng danh miền đất Võ với nhiều thành tích xuất sắc ở những đấu trường lớn. Nhưng công tác tuyển chọn, đào tạo vận động viên (VĐV) đỉnh cao vẫn chưa được chú trọng đúng mức…

Đội tuyển năng khiếu võ cổ truyền Bình Định tại Giải trẻ võ cổ truyền toàn quốc năm 2009.

* Bất cập công tác tuyển chọn
Một thời gian dài, võ Bình Định luôn giữ vị trí hàng đầu trong cả nước tại nhiều giải đấu. Tuy nhiên, cũng có thời điểm đất Võ “trắng tay” ở những giải đấu quan trọng. Đại hội TDTT toàn quốc năm 2002 là một ký ức buồn với làng võ Bình Định, khi chỉ giành được 2 HCB và 2 HCĐ đều ở nội dung đối kháng. Có nhiều nguyên nhân dẫn đến thất bại. Nhưng then chốt là do VĐV Bình Định không kịp thích nghi với thể thức thi đấu mới ở nội dung đối kháng: chuyển từ võ đài xuống sàn đài.
Mãi đến Đại hội TDTT toàn quốc năm 2006, các thành viên đội tuyển võ cổ truyền mới xuất sắc đem về 5 HCV, 7 HCB và 8 HCĐ (trong cả hai môn võ cổ truyền và tán thủ wushu), là đội tuyển duy nhất đem HCV về cho đoàn Bình Định. Tuy vậy, việc các VĐV nội dung biểu diễn không đoạt được HCV nào đã chỉ ra sự hụt hẫng ở tuyến kế thừa, bởi những VĐV kỳ cựu như: Trần Duy Linh, Võ Văn Tính, Nguyễn Văn Cảnh… đã bước qua thời kỳ đỉnh cao phong độ.
Hiện nay, việc xây dựng tuyến kế thừa đã được thực hiện tương đối liên tục. Tuy nhiên, công tác tuyển chọn VĐV năng khiếu còn nhiều hạn chế, chủ yếu chỉ thông qua các giải đấu, chưa có tiêu chí, chưa thành hệ thống bài bản, chưa mang tính khoa học. Việc tuyển chọn chuyên sâu chưa thành nguyên tắc, chưa tiến hành tuyển chọn ở diện rộng, chỉ dựa vào một vài huyện có phong trào mạnh như: An Nhơn, Tuy Phước, Tây Sơn, Hoài Nhơn… nên số lượng VĐV tham gia tuyển chọn chưa được nhiều.
Việc kiểm tra sàng lọc các VĐV không đáp ứng được chuyên môn, và kế hoạch tuyển chọn bổ sung chưa rõ ràng, cụ thể. Trang thiết bị, dụng cụ phục vụ cho công tác tuyển chọn VĐV còn quá đơn giản, nhất là những dụng cụ về y sinh học. Kinh phí đầu tư cho công tác tuyển chọn ở diện rộng còn rất hạn chế.
Bên cạnh đó, chế độ cho VĐV năng khiếu hiện nay quá thấp, không đủ kích thích các gia đình gửi con em mình theo tập luyện. Mức hỗ trợ phong trào còn thấp nên chưa tạo được động lực cho các võ đường chuyên tâm tìm kiếm và đào tạo những “mầm non” để chuyển lên “tuyến trên”.
Việc hỗ trợ trong công tác tập huấn chuyên môn cho các CLB ở cơ sở đến nay vẫn chưa được chú trọng đúng mức. Võ sư Trần Duy Linh, HLV nội dung biểu diễn đội tuyển võ cổ truyền tỉnh, cho biết: “Tìm một VĐV trẻ có năng khiếu, tố chất vào thời điểm này là điều không hề dễ dàng. Cùng một thế võ, nhưng tùy theo sự nhìn nhận, cảm thụ mà mỗi võ sư, HLV ở phong trào truyền dạy những động tác khác nhau. Do đó, để chỉnh sửa, đào tạo các em thành một VĐV đủ khả năng thi đấu ở các giải quốc gia mất rất nhiều thời gian và công sức”.

Phòng tập chật chội ảnh hưởng không nhỏ đến việc huấn luyện của đội tuyển đối kháng võ cổ truyền Bình Định.

* Đầu tư chưa tương xứng
Đội ngũ Ban huấn luyện võ Bình Định hiện nay gồm những võ sư, HLV trẻ, tâm huyết, tài năng, nhanh chóng nắm bắt, áp dụng những tiến bộ khoa học kỹ thuật vào huấn luyện. Điều đó đã giúp chúng ta giành được những thành công lớn ở đấu trường quốc gia trong khoảng gần 10 năm trở lại đây. Nhưng với mức đầu tư còn hạn chế, việc duy trì những thành tích đó là điều rất khó khăn, khi nhiều địa phương khác đã triển khai những chiến lược phát triển lâu dài bộ môn này.
Những năm gần đây, Ban huấn luyện đội tuyển võ cổ truyền Bình Định thường xuyên xây dựng kế hoạch đào tạo theo từng giai đoạn cụ thể, nhưng vì ngân sách dành cho bộ môn còn hạn hẹp, trang thiết bị dụng cụ, sân bãi tập luyện chưa được đầu tư thỏa đáng, nên không thể thực hiện theo kế hoạch đã đề ra. Từ đó, việc nâng cao thành tích cho VĐV đẳng cấp, nâng cao chỉ số chuyên môn cho VĐV dự bị cũng bị ảnh hưởng.
Với việc giá cả thị trường có biến động mạnh trong thời gian qua, mức chi tiền ăn cho mỗi VĐV 45.000 đồng/ngày không đủ để họ duy trì tập luyện ở khối lượng cao. Mức tiền công khoảng 1,1 triệu đồng/người/tháng (22 ngày tập x 50.000 đồng/ngày) không đủ để VĐV trang trải những nhu cầu thiết yếu cho cuộc sống. Đầu ra của những VĐV hết độ tuổi sung mãn không rõ ràng, đa số họ thường xuất thân từ gia đình khó khăn, nên sau khi giải nghệ không đủ điều kiện để học đại học hoặc tìm một nghề để mưu sinh. Do đó, tư tưởng các VĐV không ổn định, dễ bị ảnh hưởng tiêu cực từ sự lôi kéo, tác động của đơn vị khác với những hứa hẹn về chế độ, lương, thưởng…
Thành tích mà thể thao Bình Định giành được trong những năm qua có đóng góp quan trọng của võ cổ truyền. Nhưng nếu không có những giải pháp mang tính chiến lược, những sự đầu tư bài bản với kế hoạch lâu dài để xây dựng và củng cố từ phong trào đến đỉnh cao, việc duy trì những thành tích đó là điều không dễ dàng.
Nguy cơ mai một truyền thống

Những người đang gắn bó với sự nghiệp gìn giữ và phát triển võ Bình Định hay nói đùa “không thực vẫn vực được võ”. Đùa là đùa thế, nhưng sau thế hệ võ sư, huấn luyện viên (HLV), vận động viên (VĐV) tâm huyết hiện có, những người quan tâm tới võ Bình Định đang mỏi mắt tìm kiếm lứa kế thừa. Có thể săn được VĐV giỏi nhưng rất khó tìm ra những VĐV giàu đam mê, có tố chất dẫn dắt. Phải chăng võ Bình Định đứng trước nguy cơ “đứt mạch” truyền thống?

Võ sư Phi Long Vịnh có nhiều cống hiến nhưng không có điều kiện nên vẫn phải dạy học trò ở khoảng sân chật hẹp trước nhà.

* Gian khó giữ nghiệp
Hiện trong số các võ sư hiện đang sống ở tỉnh Bình Định, chỉ có 3 võ sư - Phan Thọ, Phi Long Vịnh, Phan Thanh Sơn được ngân sách hỗ trợ mỗi người 300 ngàn đồng/tháng. Và cũng chỉ có 10 võ đường ở các huyện: Tây Sơn, An Nhơn, Tuy Phước, Hoài Nhơn, Hoài Ân được chọn làm vệ tinh, cung cấp VĐV năng khiếu cho đội tuyển tỉnh, hàng tháng mỗi võ đường được hỗ trợ 450 ngàn đồng. Không nói ra thì ai cũng biết, mức hỗ trợ là rất ít ỏi so với cống hiến của các võ sư, võ đường.
Những người đang gắn bó với sự nghiệp gìn giữ và phát triển nghiệp võ hiện nay chủ yếu là vì giàu tâm huyết, chứ chưa ai sống dựa hẳn vào nghề võ. Võ sư Phan Thọ (Tây Sơn) tâm sự: “Nếu có kinh phí hỗ trợ, tôi sẵn sàng dạy miễn phí cho học trò. Nhưng ngặt nỗi gia cảnh cũng nghèo, không có cách gì xoay xở, nên đành phải thu phí chút ít để trang trải cuộc sống thường nhật…”.
Võ sư Trần Quý Ba (Hoài Ân) cho biết: “Ở một huyện miền núi, mức học phí 50.000 đồng/tháng để luyện tập hàng ngày vẫn được xem là nặng với nhiều gia đình. Có võ sinh khi nghĩ đến học phí đã… nghỉ luôn. Do đó, để duy trì phong trào, chúng luôn có chế độ miễn giảm cho các võ sinh có hoàn cảnh khó khăn”.
Còn võ sư Thanh Hùng (Hoài Nhơn) thì cho rằng: “Võ sinh theo học đông cũng là điều đáng mừng, nhưng không thể nói nhờ nguồn thu nhập từ học phí mà kinh tế của mình khá lên được. Bên cạnh đó, những lần đi dự giải tốn kém đủ bề nhưng hầu như chỉ có mình tôi gánh vác. Đã trót theo đuổi niềm đam mê thì phải thế thôi, chứ không lẽ bỏ ngang di sản tổ tiên mình để lại…”.
Nguồn thu từ việc dạy võ không bao nhiêu, cuộc sống khó khăn là thế, nhưng khi tỉnh tổ chức giải đấu, nhiều võ sư, HLV vẫn cố gắng gom góp tiền bạc hoặc vận động các gia đình VĐV đóng góp để dẫn học trò đi thi đấu, cọ xát, kiểm nghiệm trình độ. Theo quy định của Ban tổ chức, Giải Võ cổ truyền các CLB tỉnh, tính từ vòng loại mỗi VĐV thi đấu đối kháng cứ mỗi trận thắng sẽ nhận được khoản tiền hỗ trợ là 50.000 đồng; riêng các VĐV tham gia nội dung hội thi biểu diễn thì được khoán gọn mức hỗ trợ 100 ngàn đồng/người.
* Nguy cơ “đứt mạch” truyền thống
Phong trào luyện tập võ Bình Định trên địa bàn tỉnh hiện đang phát triển rộng, nhưng chủ yếu tập trung ở một số địa phương có bề dày truyền thống. Và ngay tại các địa phương này, việc phát triển tuy rộng nhưng lại chưa thực sự vững chắc.
Huyện Tây Sơn có truyền thống võ cổ truyền trăm năm lừng lẫy là thế, nhưng hiện chỉ còn khoảng chục võ đường. Phần lớn hoạt động theo kiểu “lai rai”, chỉ có hai võ đường thường xuyên đào tạo VĐV tham gia thi đấu giải tỉnh là võ đường Phan Thọ và võ đường Hồ Bé. Võ sư Phan Thọ đã cao tuổi nên việc đào tạo hạn chế, gánh nặng gìn giữ phong trào vì vậy đều dồn hết vào võ đường của gia đình võ sư Hồ Bé.
Huyện An Nhơn tuy số võ đường hoạt động mạnh, khá đồng đều, nhưng đáng tiếc là phong trào ở làng võ An Thái vang bóng một thời, nay coi như đã lụi tàn vì không còn hạt nhân ở địa phương để truyền dạy.
Hoài Nhơn luôn là một trong những đơn vị mạnh ở các giải võ cổ truyền toàn tỉnh, đặc biệt là ở nội dung đối kháng. Song số lượng võ đường, CLB tham gia giải ngày càng “teo tóp”, hiện chỉ còn vài cái tên như võ đường Thanh Lương, Thanh Hùng, Thanh Thiên…
Một phần lý do của sự teo tóp là các võ sư, HLV phải mưu sinh. Võ sư Thanh Lương vẫn sống bằng nguồn thu nhập chính từ nghề rèn. Võ sư Thanh Hùng thì trông cậy vào suất tiền lương vệ sĩ ở một chi nhánh ngân hàng. Những võ đường khác chỉ hoạt động cầm chừng, ít tham gia các giải đấu.
Phong trào tập luyện võ cổ truyền ở huyện Hoài Ân sau thời kỳ “cực thịnh” những năm 80 của thế kỷ trước, hiện chỉ còn hai võ đường Trần Quý Ba, Trần Quý Trị là tương đối sôi nổi. Nguồn thu nhập chính của võ sư Trần Quý Ba nằm ở… tiệm thuốc Bắc, còn cháu trai Trần Quý Trị là khoản lương giáo viên thể dục. Nhiều gương mặt gạo cội khác ở Hoài Ân đã giải nghệ như: võ sư Phi Long Tĩnh “quy ẩn” chăm lo ruộng vườn, võ sư Kim Minh Công giờ lo trồng rừng, võ sư Thanh Sơn lại đi trồng cà phê trên Tây Nguyên…

Võ sư Trần Quý Ba (bên phải) người đóng góp rất nhiều cho việc duy trì và phát triển phong trào võ cổ truyền ở huyện Hoài Ân. Ông sống chủ yếu bằng nghề thầy thuốc.

* Thương cho trò và thương cả cho mình
Có thể thấy nguy cơ “đứt mạch” truyền thống võ Bình Định khi các võ sư lớn tuổi làm chỗ dựa cho phong trào đã ra đi vì tuổi cao sức yếu. Võ Bình Định sẽ ra sao nếu thế hệ những võ sư hiện đang ở tuổi thất thập trở lên ra đi? Chắc chắn sẽ là một khoảnh trống mênh mông. Và điều khiến những người mộ võ lo lắng là những võ sư, HLV sáng giá ở lứa tuổi U50, U60 ở ta hiện cũng không nhiều.
Thế hệ võ sư, HLV trẻ làm nòng cốt hiện tại chưa biết có kiên trì theo đuổi nghề hay không, trước những sức ép của cuộc mưu sinh. Điều này đòi hỏi ngay bây giờ cần phải gầy dựng được một lực lượng mới truyền dạy võ cổ truyền có chất lượng để giữ vững phong trào. Lực lượng giảng dạy này trước mắt có thể được bồi đắp dần, từ việc lựa chọn hạt nhân là các VĐV đội tuyển võ cổ truyền tỉnh giàu nhiệt huyết.
Võ sư HÀM HỮU NGHĨA, Chủ tịch Hội Võ thuật huyện Tuy Phước:

“Để góp phần thúc đẩy phát triển phong trào luyện tập võ cổ truyền, cần tổ chức thêm nhiều những giải thi đấu giao hữu nội dung đối kháng. Sau ngày giải phóng miền Nam (1975), nhiều huyện, xã đứng ra tổ chức những đêm võ đài với sự tham gia rất nhiệt tình của đông đảo võ đường, kể cả từ các tỉnh bạn. Vì nhiều lý do những đêm võ đài như thế thưa vắng dần. Hiện nay, những đêm võ đài thường chỉ xuất hiện vào dịp Tết âm lịch. Các võ sĩ trong tỉnh ít có cơ hội cọ xát trong các giải đấu giao hữu ở cơ sở để tích lũy kinh nghiệm, hoàn thiện kỹ thuật. Dịp Tết năm vừa rồi, khi tổ chức thi đấu võ đài ở xã Phước Nghĩa, chúng tôi đã thử nghiệm trước khi thi đấu cho biểu diễn văn nghệ, binh khí nên thu hút rất đông khán giả mua vé vào xem hơn hẳn các năm trước…”.
Theo Báo Bình Định

Thứ Sáu, 22 tháng 7, 2011

DOANH NHÂN BÌNH ĐỊNH - VÕ TRƯỜNG THÀNH
















Khi tôi lên thăm công ty Gỗ Trường Thành của Ông với các đối tác nước ngoài tôi rất ấn tượng về nhà máy sản xuất gỗ rộng lớn của Ông tại Bình Dương. Không ngờ, Ông cũng là một người con Bình Định - sinh ra và lớn lên ở miền đất võ Tây Sơn, từng là một anh giáo nghèo, đồng lương không đủ nuôi gia đình, bỏ nghề đi làm gỗ, khởi nghiệp từ số vốn 30 triệu đồng, sau 13 năm số vốn đã tăng lên 150 tỉ đồng và trở thành ông chủ của một tập đoàn gỗ nổi tiếng, đó là Ông Võ Trường Thành - Tổng giám đốc Tập đoàn kỹ nghệ gỗ Trường Thành (huyện Thuận An, tỉnh Bình Dương).


Ấn tượng đầu tiên của chúng tôi về "ông chủ lớn Trường Thành" là giọng nói vẫn đặc sệt chất Bình Định. Sự nồng hậu của ông khiến tư thế chuẩn bị làm việc với một doanh nhân thành đạt của chúng tôi chuyển thành một cuộc trò chuyện thân tình như những người trong nhà từ lúc nào không hay...
Bỏ quê, về phố, lên rừng
Vợ chồng anh vốn là giáo viên, lập gia đình và có con khá sớm, nên không thoát khỏi cảnh "thiếu trước hụt sau". Giữa cái thời "nhà văn - nhà báo - nhà giáo = nhà nghèo" thế mà cả hai vợ chồng cùng theo nghề giáo nên gia cảnh đã khó lại càng thêm khó. Sau hai năm theo nghề anh quyết định rẽ ngang (1979) khi ấy anh mới chỉ 21 tuổi.
Khăn gói vào Sài Gòn, bạn bè khuyên anh gia nhập vào lực lượng Thanh niên xung phong của Tổng đội TNXP TPHCM. Sau khi gia nhập lực lượng TNXP, anh được đưa lên Tây Nguyên làm việc ở một công trường khai thác gỗ ở tỉnh Đắc Lắc. Gần 10 năm gắn bó với cao nguyên, sau bao trận mưa rừng, gió núi, xám mặt với những trận sốt rét rừng cay nghiệt, Thành trở thành một "chiến binh" thứ thiệt. Từ vị trí là một đội viên anh được đồng đội và lãnh đạo tín nhiệm, đề bạt làm Trưởng phòng rồi rồi Phó giám đốc công trường. Với nỗ lực phấn đấu không ngừng, đến năm 28 tuổi Võ Trường Thành được đề bạt vào vị trí giám đốc Xí nghiệp Khai thác và Chế biến lâm sản TNXP.
"Tôi có máu thích thay đổi, luôn luôn tìm cách làm sao để hiệu quả công việc đạt đến mức tối ưu, cả bản thân mình cũng thế mình cứ tự thử thách mình liên tục" - Ông Thành tâm sự. Có lẽ cũng vì bản tính ấy, năm 1991, anh xin nghỉ việc ở Xí nghiệp Khai thác và Chế biến lâm sản TNXP, trở về Quy Nhơn làm Trưởng chi nhánh xuất nhập khẩu gỗ Quy Nhơn (thuộc Liên hiệp xuất nhập khẩu Quận 1- TP Hồ Chí Minh). Cũng trong thời gian này anh đăng ký học đại học từ xa ngành Quản trị kinh doanh để chuẩn bị cho một hành trình mới. Chặng đường đầu tiên về phố - lên rừngvề quê của anh có một khúc lặng như thế.
Sang Mỹ đi học để làm ông chủ
Năm 1993 vì hoàn cảnh gia đình riêng và cũng vì muốn tự thể hiện những kinh nghiệm đã tích lũy, một lần nữa anh Thành lại thay đổi môi trường làm việc. Lần này là cho riêng mình.

Biết ở huyện Ea H’leo tỉnh Đắc Lắc có một đơn vị quân đội đang rao bán một xưởng sơ chế gỗ cỡ nhỏ, anh liền vay mượn nhiều người được 30 triệu đồng để mua xưởng gỗ này. Và chỉ một năm sau, xưởng gỗ nhỏ vốn chỉ có chừng 30 công nhân này đã được anh "thổi" thành Nhà máy tinh chế đồ gỗ xuất khẩu Trường Thành với số lượng công nhân tăng lên tới 200 người. Cũng tại thời điểm này, sản phẩm của Trường Thành bắt đầu lên đường sang Đài Loan, Hàn Quốc. Năm 1995, đồ gỗ của Trường Thành xâm nhập thị trường châu Âu như: Anh, Pháp, Tây Ban Nha… Năm 1997 xuất sang thị trường Nhật. Biết doanh nghiệp của mình sẽ còn lớn mạnh hơn, biết rằng nhãn hiệu Trường Thành rồi sẽ là nhãn hiệu quốc tế năm 1999 anh lại khăn gói sang Mỹ học chương trình cao học về Quản trị kinh doanh.


Ngẫm ra lại thấy vui vui, anh Thành tâm sự - Mình vốn là thầy giáo, vì miếng cơm manh áo mà phải bỏ trường đi làm thuê, thế rồi vì muốn làm chủ lại phải cắp sách đi học trở lại.
Cùng với việc học tập, nghiên cứu để lấy tấm bằng thạc sĩ, anh còn hoạch định chiến lược nhằm xây dựng Trường Thành thành một tập đoàn hùng mạnh. Năm 2000 anh cho xây dựng nhà máy thứ 2 rộng 30.000 m2 tại Thuận An (Bình Dương) và mở văn phòng chi nhánh tại TP Hồ Chí Minh. Từ nhà máy hình mẫu này, hàng loạt nhà máy khác theo đó mọc lên…
Đến nay, sau 13 năm gầy dựng, anh đã là Tổng giám đốc của một tập đoàn mang tên Trường Thành (vốn 100% trong nước) với "biên chế" 6 nhà máy tại các tỉnh Đắc Lắc, Bình Dương, TP Hồ Chí Minh và một dự án nhà máy chế biến hàng gỗ xuất khẩu thứ 7 đang triển khai tại tỉnh Sêkông (Lào), sẽ hoạt động vào cuối năm 2006.
Hiện nay, tập đoàn Trường Thành với hơn 4.500 công nhân trẻ giỏi tay nghề và hơn 500 cán bộ nhân viên chuyên nghiệp, hầu hết trong tuổi thanh niên có trình độ từ đại học trở lên. Điều đặc biệt là cũng như nhiều doanh nhân Bình Định thành đạt khác, ông chủ Trường Thành cũng nặng lòng ưu tư về bản quán. Chính vì thế trong danh sách cán bộ, công nhân của ông có tới gần 2.000 người quê ở Bình Định. Đặc biệt chính ông với "đôi mắt xanh" của mình đã lọc ra được năm người mà những lúc nói vui, ông thường đùa đây là "những đại thần của Trường Thành". Hiện trong số này có một người là Phó tổng giám đốc và 4 giám đốc nhà máy.
Và cũng như nhiều doanh nhân Bình Định khác, ông khéo léo từ chối nói về điều này trừ các con số đơn giản vừa kể trên. Lại một quãng lặng nữa xuất hiện trong cuộc trò chuyện. Và tôi biết, quê hương nơi chôn nhau cắt rốn vẫn luôn là nỗi hoài nhớ trong ông.
Vững như Trường Thành
Năm 2005, với sản lượng xuất khẩu 2.000 container hàng gỗ tinh chế (bàn, ghế, tủ, kệ, giường, cửa...) Trường Thành đạt doanh thu 30 triệu USD, cao hơn năm trước 10 triệu USD. Có thế nói, năm 2005 là dấu mốc son chứng tỏ sự phát triển vượt bậc của tập đoàn Trường Thành và cá nhân anh.
Với tiếng vang và uy tín đạt được, tháng 10-2005, tại Madrid (Tây Ban Nha), tập đoàn kỹ nghệ gỗ Trường Thành đã vinh hạnh đoạt “Cúp vàng chất lượng quốc tế 2005”, riêng Tổng giám đốc Võ Trường Thành vinh dự nhận "Huy chương vàng quản lý chất lượng toàn cầu 2005" do Câu lạc bộ những doanh nhân hàng đầu thế giới (Trade Leaders' Club) trao tặng và được kết nạp là thành viên của câu lạc bộ này. Cũng trong tháng 10-2005, tại Hà Nội, Võ Trường Thành thay mặt tập đoàn vinh dự nhận Giải Vàng chất lượng Việt Nam 2005, giải thưởng trao tặng cho các doanh nghiệp xuất sắc nhất trong số những doanh nghiệp đạt giải thưởng chất lượng Việt Nam hằng năm cũng như vinh dự được Thủ tướng Chính phủ tặng bằng khen. Đến tháng 11-2005, tại Roma (Ý), một lần nữa Trường Thành lại nhận “Cúp vàng chất lượng châu Âu 2005” do Câu lạc bộ những doanh nhân hàng đầu thế giới trao. Sự phát triển bền vững của tập đoàn đến nay đã vừa ứng với chính tên cúng cơm Trường Thành mà cha mẹ đã kỳ vọng nơi anh ngày nào.
Ra đi là để trở về
Tập đoàn Trường Thành hùng mạnh là thế nhưng tốc độ phát triển của nó dưới sự chủ đạo của Tổng giám đốc Võ Trường Thành vẫn chưa có dấu hiệu chững lại. Không chỉ đầu tư kinh doanh và dừng lại tại ngành gỗ, Tập đoàn Trường Thành còn là đối tác kinh doanh của VMS Mobi Fone, và là Tổng đại lý phân phối thẻ điện thoại trả trước Mobicard trên phạm vi toàn quốc với doanh số gần 500 tỉ đồng/năm. Công việc bận rộn là vậy, sự thành công và phát triển không ngừng của Tập đoàn là vậy nhưng với bản tính không tự hài lòng với những thành công đã gặt hái, anh vẫn tranh thủ thời gian nâng cao kiến thức, mở rộng phạm vi, ngành nghề, lĩnh vực kinh doanh.
Hiện nay, tập đoàn của anh đang liên kết với 9 doanh nghiệp gỗ ở Bình Định để cùng đặt hàng và nhập nguyên liệu để ổn định sản xuất. Ngòai ra, chính anh cũng thường giới thiệu nhiều bạn hàng cho các doanh nghiệp gỗ ở quê hương Bình Định. Sự giới thiệu của Võ Trường Thành gần như là một sự bảo chứng có giá trị cao.
Trước khi chia tay, ông thổ lộ: “Mình đã tính rồi, khi KKT Nhơn Hội hoàn thành, Tập đoàn Trường Thành sẽ đăng ký xây dựng một nhà máy sản xuất các linh kiện phục vụ công nghiệp sản phẩm gỗ tinh chế tại đây”.
Quê hương đang trỗi dậy trong ông và những dự án quy mô đã nảy mầm từ nỗi hoài nhớ ấy. (ST)

Chủ Nhật, 22 tháng 5, 2011

DANH NHÂN BÌNH ĐỊNH - ĐÀO TẤN


Trên một đỉnh đồi thuộc dãy núi Huỳnh Mai (Phước Nghĩa, Tuy Phước) có một khu lăng mộ đã được xếp hạng di tích lịch sử - văn hóa quốc gia; được chăm sóc, nhang khói thường xuyên. Ðó là nơi yên nghỉ đời đời của Danh nhân Văn hóa Ðào Tấn, Hậu tổ nghệ thuật tuồng - người đã có công đưa nghệ thuật tuồng lên đến đỉnh cao vào thế kỷ 19, có nhiều đóng góp rất to lớn cho bộ môn nghệ thuật sân khấu truyền thống của dân tộc.

Đào Tấn, tự Chỉ Thúc, hiệu Mộng Mai, sinh năm 1845, mất năm 1907, quê ở làng Vinh Thạnh, xã Phước Lộc, huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định. Đào Tấn là một đại quan của triều Nguyễn, từng nhiều lần đảm nhiệm các chức vụ Tổng đốc, Thượng thư. Ông đã sáng tác, chỉnh lý, cải biên, dàn dựng hơn 40 vở tuồng và là tác giả tập sách có tính chất lý luận sân khấu mang tên Hí trường tùy bút. Ông là người sáng lập và chủ trì hoạt động rạp hát Như Thị Quan và hai gánh hát kiêm trường đào tạo nghệ thuật tuồng mang tên Học bộ đình tại thành Vinh (Nghệ An) và làng Vinh Thạnh quê hương, nơi diễn những vở tuồng của ông và là nơi đào tạo những nghệ sĩ tuồng xuất sắc nhiều thế hệ. Ông còn là tác giả của hơn 1000 bài thơ, từ và tập bút ký Mộng Mai văn sao. Nói chung, di sản nghệ thuật của Đào Tấn là hết sức phong phú, đồ sộ, hiếm có, ít người sánh kịp.

Từ một thế kỷ qua, Đào Tấn đã được coi là bậc Hậu Tổ của nghệ thuật tuồng, một quốc bảo của văn hóa dân tộc, người đã đưa nghệ thuật tuồng lên những đỉnh cao chói lọi, người đã sáng tạo nên những kiệt tác sân khấu như “Hộ sanh đàn”, “Cổ thành”, “Trầm hương các”. Cũng như cảm nhận của ông nghè Nguyễn Trọng Trì trăm năm trước khi đọc “Mộng Mai từ lục” của Đào Tấn: Luật âm phóng khoáng Tô khôn sánh Ý tứ cao xa Liễu khó bằng Sông núi, nước nhà, oằn nặng nghĩa Trăng hoa, oanh liễu, láng lai tình Nghiên cứu thơ và từ của ông, các học giả Đặng Thai Mai, Nguyễn Huệ Chi, các nhà thơ Xuân Diệu, Lưu Trọng Lư, Hoàng Trung Thông và nhiều học giả, nhà thơ nổi tiếng nhiều thế hệ đều coi Đào Tấn như một nhà thơ lớn, một nguyên súy của thi đàn Việt Nam. Từ chỗ ngộ nhận, ác cảm với vị trí một đại quan nhiều năm của một triều đình nô lệ, theo thời gian, với nhiều tài liệu mới được phát hiện và công bố, Đào Tấn đã được nhận diện là một chính khách yêu nước thương dân mẫu mực, người có tư tưởng dân chủ và khuynh hướng cách mạng ở một trong những thời kỳ nhiễu nhương, phức tạp nhất của lịch sử đất nước. Còn nhớ, đầu những năm 1960, tại thủ đô Hà Nội, khi tôi viết những bài đầu tiên giới thiệu thân thế và sự nghiệp Đào Tấn gửi đến tạp chí Văn học, những người phụ trách biên tập ở đây đã rất nghi ngại không dám sử dụng vì cái lốt đại quan một triều đình bị cho là phản động trong lịch sử đất nước của ông.

Phải đến khi nhà nghiên cứu Đặng Thai Mai, Viện trưởng Viện Văn học, vốn là dòng dõi một văn thân yêu nước nổi tiếng xứ Nghệ, người hiểu rất rõ khuynh hướng chính trị tiến bộ của Đào Tấn khi ông làm Tổng đốc An Tĩnh, có ý kiến can thiệp, các tiểu luận này mới được in trên tạp chí. Sau khi đậu cử nhân tại trường thi Bình Định năm 1867, từ năm 1871 đến năm 1904, ngoài 3 năm từ quan về tu ở chùa Linh Phong quê nhà thời “Tứ nguyệt tam vương” sau khi vua Tự Đức mất, Đào Tấn có gần 30 năm làm quan triều Nguyễn qua ba đời vua Tự Đức, Đồng Khánh, Thành Thái. Bắt đầu từ chức Hiệu thư chuyên soạn tuồng trong cung Tự Đức, ông đã kinh qua các chức vụ khác như Tri phủ Quảng Trạch, Phủ doãn Thừa Thiên, Tổng đốc Nam Ngãi, Tổng đốc An Tĩnh, thượng thư các bộ Công, Hình, Binh và về hưu ở chức thượng thư bộ Công. Nghiên cứu cuộc đời làm quan của Đào Tấn ta thấy có một mâu thuẫn kỳ lạ: bậc trọng thần thường được các vua Nguyễn sủng ái, có tuổi quan vào loại kỷ lục ở triều Nguyễn ấy lại là người chê trách, miệt thị chốn quan trường nhiều nhất trong thơ và từ của ông. Đào Tấn từng đau đáu với cái khổ, cái nhục, cái thẹn của những người làm quan như ông. Trong bài thơ “Viết tình cờ”, ông căn dặn các con: Các con chưa tỏ sự đời Lợi danh đâu phải phận người văn chương Phong trần cha đã ê xương Chớ chen vào chốn quan trường mà chi. Dưới con mắt Đào Tấn, con người coi sự trong sạch của hoa mai là cốt cách của mình, quan trường thời ấy là chốn ô trọc, sâu mọt, bụi bặm, là nơi “nhân tình bạc tựa thu vân”, nơi “ô khóa lợi xiềng danh luôn trói chặt”, nơi đầy rẫy những kẻ “lộc vua ăn uổng, cột trời để xiêu”. Trong suốt 30 năm làm quan, giấc mộng lớn nhất, thường trực nhất trong ông là được từ quan, về quê, thỏa chí bình sinh “chỉ thích đề ngâm khắp dưới trời” của mình. Tuy vậy, giấc mộng ấy, với Đào Tấn, đã trở thành “thảm mộng” bởi ông đã không thể nào dứt nổi chốn quan trường mà ông cho là nhơ nhuốc ấy, đã từ quan về nhà, bị giáng bốn cấp, rồi vẫn ra làm quan trở lại. Đào Tấn chỉ được thỏa nguyện khi kế hoạch phục quốc của vua Thành Thái mà ông là một yếu nhân bại lộ, Đào Tấn bị buộc về hưu năm 1904, trước khi mất chừng 3 năm. Năm Đào Tấn mất cũng là năm vua Thành Thái bị Pháp buộc thoái vị.

Có một thời, chúng ta đã rất đơn giản, phiến diện khi đánh giá triều Nguyễn chỉ là một vương triều phản động, bán nước và cho rằng việc làm quan lâu dài trong một triều đình như thế dù sao cũng là một vết nhơ trong đời Đào Tấn. Nhiều người đã bênh vực Đào Tấn, nói ông đáng thương hơn đáng trách bởi đã ẩn nhẫn làm quan chỉ để làm tuồng, làm quan chỉ là cái xác, làm thơ, làm tuồng mới là cái hồn, trước sau Đào Tấn chỉ là một ông quan Tuồng. Cách biện luận ấy xem ra không thật ổn. Dù thực tế, nếu không có điều kiện của một đại quan Đào Tấn thì rất khó có một sự nghiệp tuồng Đào Tấn đồ sộ như chúng ta đang có hôm nay. Khi đương chức cũng như khi hưu nhàn, ông đã dùng tất cả những bổng lộc của một đời quan để làm tuồng.

Nhưng một người từng ba lần làm tổng đốc, bốn lần làm thượng thư, không thể nhận các chức quan vào hàng nhất phẩm, nhị phẩm triều đình chỉ để làm tuồng. Các nghiên cứu lịch sử khách quan gần đây cho thấy triều Nguyễn không chỉ có mặt tiêu cực, phản động mà còn có những mặt tích cực, tiến bộ, có những đóng góp không thể phủ nhận trong tiến trình lịch sử dân tộc, các vua quan triều Nguyễn không chỉ là những bù nhìn thân Pháp, tay sai của đô hộ Pháp mà còn có những người yêu nước chân chính, nung nấu hoài bão và phấn đấu hy sinh cho sự nghiệp chống Pháp giành lại độc lập tự do cho đất nước. Đào Tấn thuộc vào bộ phận ưu tú này. Nhà thơ Xuân Diệu đã rất tinh tế khi nhận xét rằng lời nhân vật Tiết Cương: “Thế sự đoản như xuân mộng/ Nhân tình bạc tựa thu vân/Nghiến răng cười cười cũng khó khăn/Ôm lòng chịu, chịu càng vui sướng” cũng chính là tâm sự của ông quan Đào Tấn, nói lên sự chủ động lớn lao của một người chấp nhận sự hy sinh, cảm thấy trong sự "nếm mật nằm gai" vì đại nghĩa của mình, một niềm vui, một hạnh phúc. Có thể thấy cuộc đời làm quan của Đào Tấn, nhất là dưới triều Thành Thái, khi ông được giao những trọng trách như tổng đốc Nam Ngãi, tổng đốc An Tĩnh, thượng thư các bộ Công, Binh, Hình là một lựa chọn chủ động, đầy hy sinh vì nước vì dân của ông. Thấu hiểu những ê chề cay đắng của kiếp làm quan ở một thời vua không ra vua quan không ra quan, thời lộng hành của bọn xâm lược, của lũ sâu dân, mọt nước, thời của những đọa lạc, những phản bội ghê gớm, nhưng Đào Tấn, con người luôn “Thậm cảm hưng vong chuyện nước nhà” vẫn ở lại làm quan giúp vua Thành Thái là vì trách nhiệm của một sĩ phu khi đất nước suy vong, và vì ông tin rằng mình sẽ góp phần làm cho sự liêm chính và lòng trung nghĩa không chết, ngọn đèn cứu nước không tắt và tạo điều kiện cho những anh hùng cứu nước đã và sẽ xuất hiện. Có nhiều bằng chứng cho thấy, tinh thần dân tộc bất khuất, ý chí tự cường mạnh mẽ của vị vua trẻ Thành Thái có ảnh hưởng lớn của Đào Tấn, vị cận thần thân tín của ông.

Không phải ngẫu nhiên mà người đương thời đã gọi Đào Tấn là “Kẻ ở ẩn tại triều”. Riêng về sự liêm chính, vị thượng quan Đào Tấn đã xứng đáng là một chính khách mẫu mực, một tấm gương sáng cho các chính khách muôn đời. Dưới thời Tự Đức, ông được vua ban tặng các danh hiệu “thanh, thận, cần” (trong sạch, thận trọng, chuyên cần) và “bất úy cường ngự” (không sợ uy vua). Tiếp kiến Đào Tấn tại dinh tổng đốc ở Vinh năm 1902, thời Thành Thái, Gosselin, một võ quan cao cấp người Pháp đã phải ghi nhận sau gần 30 năm làm quan, Đào Tấn vẫn “tay trắng thanh bần”. Gosselin viết: “Một đời tận tụy trong nhiều chức vụ quan trọng nhưng Đào Tấn vẫn tay trắng thanh bần. Bấy nhiêu ấy đủ thơm danh hậu thế và làm cho đại nhân vượt lên trên hẳn nhiều đồng liêu khác ít được gương mẫu như đại nhân” (L’Empire d’Annam, trang 468, Vương Hồng Sển dịch). Sinh thời, đức liêm chính của Đào Tấn đã vang khắp “trong triều, ngoài quận”. Là một ông quan thanh liêm, chính trực, nhân ái, Đào Tấn luôn luôn vì ích nước lợi dân thực thi chức trách của mình, bất chấp những hậu quả không hay có thể sẽ phải gánh chịu. Hầu hết những nơi Đào Tấn từng làm quan đều ca ngợi những ân đức mà ông đã làm cho nhân dân trong vùng. Đào Tấn từng cứu trợ nạn đắm thuyền của hơn 400 ngư dân đảo Hải Nam, được họ lập đền thờ sống ở đảo này. Bất chấp sự can thiệp của khâm sứ Pháp, ông quan “điềm tĩnh, khiêm hòa” ấy đã ra lệnh xử chém Bồi Ba, tên tay sai Pháp gây nhiều tội ác với nhân dân Huế. Khi bị điều ra nhậm chức tổng đốc An Tĩnh, Đào Tấn dâng sớ nói rõ: “Hoan châu là đất xung yếu, sĩ phu nhiều người học giỏi, sĩ khí hùng, dân trí tốt, tôi đến nơi chỉ làm cho được chữ Phủ (vỗ về) để cho dân được an cư lạc nghiệp. Còn chữ Tiểu (đánh dẹp) thì quan tiền nhiệm của tôi đã thành công...Tôi là quan văn, không làm được những việc quan tướng đã làm. Nếu triều đình chấp thuận tôi xin tựu nhiệm. Nếu bất thuận tôi xin chịu tội vi mạng”.

Theo các nhà nghiên cứu văn hóa Huế, Đào Tấn từng nhận mật chỉ của Thành Thái để liên kết các nghĩa đảng Cần vương. Ông tham gia lập Duy Tân hội cùng các chí sĩ trẻ xứ Quảng như Nguyễn Hàm, Phan Chu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng, che chở, tạo điều kiện cho Phan Bội Châu hoạt động, tham gia tổ chức việc Đông du của Phan Bội Châu và Cường Để. Đào Tấn còn kết thân với các văn thân yêu nước xứ Nghệ như Cao Xuân Dục, Đặng Nguyên Cẩn, có quan hệ mật thiết và là ân nhân của gia đình cụ Nguyễn Sinh Sắc, thân sinh Bác Hồ. Đào Tấn là người tiến cử họa sĩ Lê Văn Miến tham gia kế hoạch phục quốc bí mật của vua Thành Thái, chuyên vẽ mẫu vũ khí… Đào Tấn làm nhiều thơ ca ngợi nhũng chí sĩ kháng Pháp như Hoàng Diệu, Hoàng Kế Viêm, Phan Bội Châu… Khi Phan Đình Phùng hy sinh trên núi rừng Vụ Quang, dưới danh nghĩa văn thân Nghệ Tĩnh, Đào Tấn đã có thơ và câu đối ca ngợi tiết tháo của người anh hùng họ Phan cực kỳ chấn động lòng người. Bài thơ viết (tạm dịch): Chẻ tre thế tưởng phục hai kinh Công khó mười năm xót chẳng thành Buồn nghe vua trẻ lo hòa nghị Khóc thấy sơn hà tụ ánh minh Tay giằng sông núi lòng chưa chết Xác gửi trời sao khí vẫn sinh… Còn đây là đôi câu đối: Anh hùng thành bại chớ bàn. Lòng trung ấy, nghĩa lớn này, thề chung thủy trọn tình cùng chiến hữu. Anh linh son mực, đạo sách đèn nên phải trọng cương thường. Khá hận bấy: Ngôi nhà nghiêng đổ, một cây chống chẳng được nào! Cung lạnh khói tan, tiếng oán dậy rừng ai chẳng xót!. Huống đang lúc rồng bay mây ám, lại thêm tráo chác việc người. Thương thay La Việt giang san, văn hiến trăm năm trơ chiến địa! Trời đất cổ kim còn mãi. Núi ngất cao sông chảy xiết vũ trụ này là của đấng trượng phu. Gió tuyết Lam Hồng, ngạo giá rét cũng hao mòn tùng bách. Biết sao đây! Sóng cả dâng trào, cột đá giữa dòng khó vững. Sao dời vật đổi, chạnh tình vườn cũ nghĩ càng đau! Lại gặp cơn giứ thốc nhạn lìa, trách bấy lòng trời chẳng giúp! Rõ thật Tùng Mai khí tiết, tinh thần một thác sáng trăng sao! Hai tác phẩm tuyệt bút của lòng yêu nước trên cho thấy vị tổng đốc của triều Nguyễn đã không ngần ngại công khai đứng hẳn về phía những người cầm súng đánh Pháp.

Đặc biệt, thời làm tổng đốc An Tĩnh, vị chính khách kiêm nghệ sĩ tuồng Đào Tấn đã sử dụng tuồng như một thứ vũ khí sắc bén tố cáo sự thối nát của một triều đình phong kiến thân Pháp phản động, cổ vũ mạnh mẽ phong trào kháng chiến thay đổi chế độ, thay đổi triều đại với các vở diễn như “Trầm Hương các”, “Hoàng Phi Hổ quá Giới Bài quan”, “Diễn Võ đình”, “Hộ Sanh đàn”... sau này trở thành những vở diễn, hay nhất, có sức sống lâu bền nhất của ông. Có thể nói đây là những vở tuồng cách mạng của Đào Tấn. Nếu mười năm trong cung vua Tự Đức, tại “Duyệt thị đường”, Đào Tấn đã viết được hàng chục pho tuồng dù đã được vua phê là “kỹ thuật thần diệu” nhưng đều là những vở theo phụng sắc mà viết, cho vua và triều thần xem, chưa phải là những gì tâm đắc của ông. Thì tới “Như Thị quan”, rạp hát riêng của tổng đốc Đào Tấn, tuồng Đào Tấn đã có mục tiêu tâm đắc “làm mới mẻ chính trị, mới mẻ đạo đức”, cho đông đảo quần chúng nhân dân lao khổ, kể cả những người chưa biết chữ xem. Đây là những vở tuồng tràn ngập tinh thần dân chủ, trao gửi niềm tin cứu nước cứu dân cho những anh hùng trên non cao, suối sâu, những người đang bị đặt ra ngoài vòng pháp luật. Viết, dựng, diễn những vở tuồng cách mạng trên, ông quan Đào Tấn đã “Dùng ngọn bút làm đòn xoay chế độ/mỗi vần thơ bom đạn phá cường quyền”(Sóng Hồng).Dưới cái lốt một đại quan triều Nguyễn, Đào Tấn đã thực sự là một chính khách dân chủ, cách mạng. Bởi vậy, chúng ta rất tự hào vì nghệ sĩ thiên tài Đào Tấn. Chúng ta cũng hoàn toàn có thể tự hào vì nhân cách ông quan Đào Tấn, vị chính khách liêm chính, yêu nước, dân chủ, cách mạng Đào Tấn. Một nghệ sĩ thiên tài và một chính khách yêu nước, cách mạng, không có sự kết hợp đó, sẽ không có một Đào Tấn vĩ đại mà chúng ta tự hào kỷ niệm hôm nay.

DOANH NHÂN BÌNH ĐỊNH - ĐOÀN NGUYÊN ĐỨC

Ông Đoàn Nguyên Đức làm ngạc nhiên mọi người khi mời Kiatisak, danh thủ lừng lẫy bật nhất Đông Nam Châu Á lúc bấy giờ về phố núi Gia Lai. Sau đó là mở học viện bóng đá Arsenal, rồi là người Việt Nam đầu tiên có máy bay riêng...

Hơn 40 năm trước, cậu bé Đoàn Nguyên Đức hàng ngày chăn trâu trên cánh đồng bên cạnh sân bay Phù Cát, tỉnh Bình Định quê hương, ước mơ một ngày nào đó sẽ được cưỡi và tậu cho mình một máy bay riêng. Ước mơ tưởng như viển vông đó nay đã thành hiện thực.Ở phố núi, chẳng ai gọi ông Chủ tịch Câu lạc bộ bóng đá Hoàng Anh Gia Lai, Tổng giám đốc kiêm Chủ tịch Tập đoàn Hoàng Anh Gia Lai (HAGL Group) bằng cái tên cúng cơm Đoàn Nguyên Đức, mà là Ba Đức vì cái tên này đã trở nên gần gũi, thân quen với mọi người.

Từ năm 2001 đến nay, cái tên Ba Đức càng nổi như cồn sau những sự kiện làm nên các “ tít” lớn trên hầu hết các báo Việt Nam và cả trên thế giới như: việc ông mua chân sút số một Đông Nam Á Kiatisak và trả lương đến 15.000 USD một tháng vào năm 2002; hợp tác với CLB bóng đá nổi tiếng của Anh Arsernal để mở Học viện bóng đá HAGL Arsenal JMG vào năm 2007…

Đầu năm 2008 ông còn định mua 20% cổ phần của CLB Arsenal. Và gần đây nhất là ông đã tậu cho mình một chiếc máy bay riêng (Beechcraft King Air 350, trị giá 7,5 triệu USD) như điều mà ông từng mơ ước 40 năm về trước. Điều đặc biệt là ông tậu chiếc máy bay này từ tiền túi cá nhân để phục vụ công việc chung của Tập đoàn.

Bước ngoặt để Đoàn Nguyên Đức trở thành thương gia là khi ông 22 tuổi sau 4 lần thi đại học không thành. Bầu Đức kể lại rằng: “Chính vì thi rớt đại học, tôi lại thành đạt như bây giờ. Tôi có đọc cuốn sách viết về 100 tỷ phú thế giới, thấy có ai học đại học được đâu. Ông trùm máy tính của thế giới là Bill Gates giỏi lắm cũng mới học nửa chừng năm thứ hai của Đại học Harvard rồi bỏ học. Riêng tôi lại rất thích câu nói: Trường đại học của tôi chính là trường đời”.

Khởi đầu sự nghiệp của ông Đức chỉ là việc trực tiếp điều hành một phân xưởng nhỏ, chuyên đóng bàn ghế cho học sinh tại xã. Nhưng kể từ năm 1990 đến nay, doanh nghiệp của ông Đoàn Nguyên Đức đã phất lên như diều gặp gió. Ông Đức trở thành chủ của Tập đoàn Hoàng Anh Gia Lai – một tập đoàn tư nhân – hoạt động trong nhiều lĩnh vực, doanh thu kể từ năm 2005 đã vượt quá 1.200 tỷ đồng, các năm sau đều cao hơn năm trước và dự kiến năm nay có thể lên đến 4.000 tỷ đồng.

Các sản phẩm của HAGL Group như đồ gỗ nội – ngoại thất cao cấp; đá granit ốp lát tự nhiên mủ cao su… đã có mặt hầu khắp các thị trường châu Á, châu Âu, châu Mỹ, Australia và New Zealand. Các văn phòng đại diện của HAGL cũng được thiết lập tại nhiều nước nhằm tạo điều kiện cho khách hàng có thể tiếp cận, giao dịch với tập đoàn một cách thuận tiện và nhanh chóng nhất.

Hiện nay, HAGL Group còn mở rộng đầu tư sang lĩnh vực kinh doanh địa ốc, như xây dựng các trung tâm thương mại, căn hộ cao cấp, văn phòng cho thuê, và đã cho ra đời một loạt khách sạn, khu nghỉ mát 4 sao, 5 sao tại TP HCM, Đà Lạt, Đà Nẵng, Quy Nhơn, Nha Trang, Pleiku…

Tính đến thời điểm 31/1/2008 tổng giá trị tài sản ròng của HAGL Group đã đạt 25.576 tỷ đồng, vượt xa so với con số 11.600 tỷ đồng đầu năm 2007. Ông Đức cho hay sở dĩ đạt được con số trên là do HAGL hiện đang sở hữu 27 dự án bất động sản, trong đó có những dự án đã được đầu tư và mua đất từ năm 2000. Do giá thị trường bất động sản, đặc biệt là căn hộ cao cấp tăng cao nên tổng giá trị tài sản ròng của tập đoàn cũng tăng.

goài ra, HAGL còn đang sở hữu hệ thống khách sạn, các resort, 5 nhà máy sản xuất đồ gỗ và chế tác đá granite, trên 20.000 ha cao su tại Gia Lai, Kon Tum và Lào, nhà máy thủy điện 143 MW; 2 mỏ sắt và một mỏ đồng…

Theo kết quả kiểm toán của Earns & Young, năm 2007 vừa qua HAGL đạt 870 tỷ đồng lợi nhuận trước thuế vượt chỉ tiêu đề ra 270 tỷ đồng. Lợi nhuận trước thuế năm 2008 ước đạt 2.500 tỷ đồng.

Ông Đoàn Nguyên Đức cho biết thêm, trong năm 2008, HAGL Group cam kết sẽ tài trợ cho Lào 100% vốn với giá trị lên đến 19 triệu USD để xây dựng làng vận động viên SEA Games 25, gồm tám khu nhà chức năng với khoảng 42.000 m2 sàn xây dựng, là một khu ở khép kín cho 4.000 vận động viên quốc tế.

Trong tổng vốn 19 triệu USD, 4 triệu USD là tài trợ không hoàn lại, phần còn lại được cho vay thời hạn ba năm không lãi suất. Khoản tiền vay sẽ được Chính phủ Lào hoàn trả bằng gỗ khai thác và các dạng quota khác cho HAGL.

Ngoài ra Chính phủ Lào còn tạo điều kiện cho HAGL thăm dò tiềm năng khai thác khoáng sản ở Nam Lào và cấp cho HAGL 10.000 ha đất trồng cao su, nâng tổng diện tích đất dự án cao su tại tỉnh Attapeu của HAGL lên 15.000 ha, bao gồm cả đất để xây dựng hai nhà máy chế biến mủ cao su với tổng công suất 40.000 tấn một năm.

Theo tính toán trong vòng 5 đến 7 năm tới lợi nhuận của HAGL từ việc đầu tư tại Lào có thể lên đến trên dưới 100 triệu USD một năm nhờ xuất khẩu cao su và các sản phẩm từ cao su và gỗ. Rõ ràng là đồng tiền mà bầu Đức bỏ ra để khuyếch trương thương hiệu và uy tín của Tập đoàn cũng như 15.000 ha trồng cao su trên đất Lào, quả thật là những con gà đẻ trứng vàng.

Tìm hiểu thêm về Đoàn Nguyên Đức người tiên phong thay đổi diện mạo bóng đá việt

1. Mua tiền đạo người Thái Kiatisuk


Mua Kiatisuk (vàng) là thương vụ thành công của bầu Đức.
Năm 2002, HAGL còn chơi ở giải hạng Nhất, bóng đá Việt Nam mới chỉ có hai năm lên chuyên nghiệp, và quyết định đưa tiền đạo số một Đông Nam Á thời điểm đó về Gia Lai với mức lương 9.000 USD mỗi tháng khiến giới chuyên môn, người hâm mộ sửng sốt. Thậm chí, đến cả CLB của Thái Lan cũng không tin nổi điều này. Khi bầu Đức sang Thái để đàm phán hợp đồng mua Kiatiasuk, CLB chủ quản của anh còn không thèm tiếp doanh nhân này. Bầu Đức phải ở lại Bangkok ròng rã trong hai tháng để tìm mọi cách tiếp xúc và tiến tới ký kết hợp đồng.

Bầu Đức nhớ lại chính chân sút người Thái cũng chất vấn rằng “lấy tiền đâu ra mà trả lương”. Khi đó, ông chủ của HAGL lập tức điện về và ra lệnh chuyển số tiền tương đương hai năm lương vào tài khoản của Kiatisuk.

Thời gian đó, Kiatisuk là linh hồn của đội tuyển Thái Lan. Tiền đạo này được dân Việt Nam yêu bóng đá ngưỡng mộ không chỉ vì tài năng trên sân cỏ mà những phẩm chất đạo đức của anh. Vì thế, có thể nói đây là thương vụ táo bạo và khôn ngoan của bầu Đức. Trước đó, không ai biết Đoàn Nguyên Đức hay HAGL là ai nhưng mọi chuyện đã thay đổi từ khi Kiatisuk tới Gia Lai.

2. Hợp tác với Arsenal và khai trương Học viện bóng đá HAGL Arsenal JMG

Bầu Đức ngồi dùng bữa với HLV Arsene Wenger. Ảnh HAGL cung cấp.
Sự nổi tiếng của CLB nước Anh lan tỏa ở Việt Nam và khắp thế giới nhờ những trận đấu ở giải Ngoại hạng. Doanh nhân người Việt ngồi cùng bàn ăn với HLV Arsene Wenger, chụp ảnh cùng các danh thủ như Adebayor.

Học viện bóng đá đầu tiên ở Việt Nam được xây dựng trên phố núi với quy trình đầu tư bài bản cho các tài năng bóng đá trẻ. Những mầm non này sẽ tương lai của bóng đá Việt Nam.

Hàng tuần, người yêu bóng đá cả nước được thấy dòng chữ Hoàng Anh Gia Lai Việt Nam chạy trên những banner quảng cáo khắp sân Emirates của Arsenal tại London (Anh).

3 . Mua cầu thủ gốc Việt Lee Nguyễn

Bầu Đức và Lee Nguyễn trong lễ ký hợp đồng vào ngày 18/1/ 2009.
Cầu thủ trẻ gốc Việt từng được gọi vào đội tuyển quốc gia Mỹ sẽ trở về chơi bóng ở quê nhà từ V-League 2009. Lee Nguyễn sẽ nhận mức lương khủng với 10.000 USD mỗi tháng trong bản hợp đồng 3 năm.

Tôi cũng như tấc cả người dân Việt Nam đang mong mỏi nhóm cầu thủ từ học viện Arsenal của Ông sẽ đưa bóng đá Việt Nam vào thi đấu World Cup một ngày không xa...

Thứ Bảy, 21 tháng 5, 2011

CÂU CHUYỆN ĐẤT VÕ

Tôi đang làm cuốn phim tài liệu về môn phái võ cổ truyền thuần Việt này. Một đôi lần có được nghe giới thiệu trên các chương trình truyền hình. Thấy tự hào nhưng chưa thỏa. Ngẫm ra cái gì thuần Việt đều tiềm ẩn trong Folklore (văn hóa dân gian). Sau khi nhận lời với Ủy ban Thể dục thể thao Việt Nam, tôi dẫn một tốp quay phim, ghi tiếng vào Bình Định.

Võ sư Đinh Văn Tuấn dẫn chúng tôi lội ngược dòng lịch sử tìm về cội nguồn. Tôi tìm thấy một trong rất nhiều cách giải thích về sự hình thành môn phái võ Tây Sơn. Đất này xưa hiểm trở. Có một rẻo phì nhiêu ven sông ven biển thì chật hẹp. Lại ba bề núi chắn. Một phía biển ngăn. Văn minh Chăm cổ có đặt dấu oai hùng lên mặt đất nhưng thưa thớt. Còn lại là hoang vu. Ba anh em Nguyễn Huệ thời đó được gửi học tại võ đường của một bậc trượng phu. Võ sư này là người họ Trương, quê gốc ở Hà Tĩnh. Ý tưởng của ông là dắt trai tráng đến đất võ bằng đường văn.

Việc dạy võ và học võ ở Tuy Viên, Bình Khê này có trước. Trong từng gia tộc có sự truyền thụ rất công phu để cháu con lên rừng, ra rẫy không e ngại muông thú. Có việc đường xa không hãi hùng đạo tặc. Và bài vỡ lòng cho môn sinh ở Thuận Truyền, Ai Thái, Anh Vinh, Bình Nghi đều giống nhau. Giỏi võ để giữ mình. Để làm người trượng phu. Không để thành giặc bạo tàn. Chúng tôi đặt máy quay phim trước nhà lão sư Phan Thọ. Cụ nâng ly rượu ra trước mặt tôi: “Biết các ông ít thời gian nhưng xin thư thái đã”. Con cháu cắm hoa, đốt hương xong. Cụ bước tới trước bàn thờ. Sau màn khói tỏa nhẹ, nét mặt cụ hiền hòa, lời khấn vái vọng về cõi xa xăm nào đó. Con cháu ngoài sân tay roi, tay kiếm đứng lặng phắc hướng vào. Có lẽ đó phút linh nghiệm của đường văn. Và chỉ sau đó mười lăm phút, tất cả hóa thân thành người khác hẳn. Tất cả như gió mây vần vụ. Tất cả như sóng dâng bão cuốn. Chiều lòng mến mộ của chúng tôi, cụ Phan Thọ ra sân. Cụ đi hết bài “Trường đao hiệp nghĩa”. Tuổi đã vượt nấc “cổ lai hy” nên đường đao có chậm lại song đó là cảnh quay chậm của bão tố thời trai. Võ sư Đinh Văn Tuấn ghé vai tôi: “Hồi xưa, võ sư Phan Thọ đã đánh hạ một chú hổ trên rừng”.

Tôi nói với võ sư Đinh Văn Tuấn:
- So với những bài võ thi đấu của Thúy Hiền võ thuật mà tôi được xem ở An Thái, Thuận Truyền khác nhau chỗ nào?
- Khác là thứ của tàu, thứ của ta.
- Tôi thấy mình kém gì đâu.
- Kém chứ anh – Đinh Văn Tuấn cười. Nhìn thẳng vào tôi sau lời khẳng định - Người ta bỏ ra bảy mươi năm đầu tư công sức bạc tiền để nâng một môn phái võ cổ truyền dân gian thành môn võ thuật thi đấu quốc tế.
- Bây giờ ta mới bắt đầu. Tôi nói vậy vì võ thuật Bình Định được xếp vào một đề tài cấp quốc gia. Đó là chỗ tâm đắc của Ủy ban Thể thao ngoài Hà Nội và các cấp lãnh đạo Bình Định.
- Ta có phải ma-ra-tông đến 70 năm không? Tôi hỏi Đinh Văn Tuấn.
- Mục tiêu về thời gian của ta là đến năm 2003 sẽ có cuộc trình làng trong khuôn khổ một SEA Games.

Tôi thấy hé một tia hy vọng. Và nghĩ rằng cái phim “Đất võ” chúng tôi đang làm cũng sẽ là khúc dạo đầu cho đề tài này. Tôi hơi nghiêng sự chú ý về phần “Đường văn”. Đường văn trong tiêu chí của ông bà khá rõ. Đường văn của thời ta là gì. Không thể chỉ bó chặt trong kích thước gia truyền. Xã hội hóa, toàn quốc hóa, chuẩn mực hóa, khoa học hóa là đường văn. Bây giờ ít có không khí trận mạc binh đao mấp mé như xưa nay ở nước ta. Tạo cho được một phong trào thật rầm rộ để từ đó mà luyện tuyển các danh tài. Tiền đồ môn phái võ Bình Định chỉ gửi gắm một phần ở các cuộc thi đấu quốc tế trong tương lai. Lớn hơn là ở khát vọng “dân cường nước mạnh”. Thiên hạ đổ xô đến vì sức hấp dẫn của một môn phái võ. Các ngành kinh tế, du lịch, thể thao có thể tính toán ra đôi điều thu hoạch.

Tôi vẫn nghiêng về phái “Đường văn” trong những ngày đi làm phim “Đất võ”. Một buổi chiều ở chùa Long Phước ra, Võ sư Đinh Văn Tuấn mời đoàn làm phim dừng lại Tuy Phước. “Món chim sẻ nước ăn được lắm”. Chủ quán được mời ra cụng ly với chúng tôi.
- Dạ mấy ông từ Hà Nội vô.
- Vâng. Chúng tôi quay phim luyện võ ở chùa Long Phước về.
- Hay lắm. Cám ơn các ông nhiều. Chủ quán nắm chặt tay tôi. Lời cảm ơn giầu mầu sắc dáng vẻ quan chức chính quyền khiến tôi chú ý.
- Anh cũng là võ sư à?
- Dạ đâu có. Em chỉ là “chim sẻ sư”!
- Hay. Nhưng sao lại cám ơn?
- Thằng cháu lớn của vợ chồng em đang theo học võ.
- Ở đâu?
- Trong chùa Long Phước. Chưa biết cháu có thành tài không nhưng thay đổi hẳn tánh nết.
- Trước hư lắm sao? Tôi cầm tay chủ quán.
- Dạ cũng sắp thành giặc. Chủ quán cười. Phả vào tôi đầy hơi rượu. Nhưng đôi mắt trầm xuống như muốn lặp lại lời cám ơn. “Nó đòi đi học võ. Vợ chồng em đã thắt ruột mà lo. Chắc rồi phải bới cơm nuôi con trong tù. Vậy mà giờ nó hiền khô. Gân bắp nó chắc nịch, dẻo mềm song nó luôn nhu mì. Như ai cũng thương được”.
Tôi hướng sang võ sư Đinh Văn Tuấn để giới thiệu với chủ quán:
- Chú em chào võ sư Đinh Văn Tuấn đi. Ông là Phó chủ tịch Hội võ thuật cổ truyền nước ta đấy.
Chủ quán đứng dậy chắp tay:
- Đa tạ thầy.

Chúng tôi đang trong tửu quán mà ngỡ đang trong võ đường. Đinh Văn Tuấn đáp lễ người ngưỡng mộ mình và kể chuyện khá vui. “Làng An Vinh có sư huynh Trần Dần. Ngày sư đoàn Mãnh hổ của Hàn Quốc đóng đầy làng trên xóm dưới, Dần còn rất trẻ. Học võ rất sáng dạ nhưng bề ngoài nhỏ nhẹ như bao người khác. Lính của sư đoàn Mãnh hổ biết đất này là đất võ. Chúng cũng có những võ sinh đăng lính và sang đây. Thăm dò rồi thách gợi. Trần Dần nhận lời. Và sân trại lính là đấu trường. Lính chiếm đóng và dân làng đông chặt. Một bên muốn thắng để giương oai. Một bên không muốn thua vì quốc thể. Và Trần Dần thắng dễ dàng.
- Trông hiền lành vậy mà cứng rắn dữ. - Một tên lính nói vậy qua lời thông dịch.
- Trông hùng hổ vậy mà yếu mềm – Ai đó trong làng nói thay Trần Dần qua lời thông dịch.

Nghe Đinh Văn Tuấn kể như một cuộc ứng đối của đường văn.
Vẫn là những giai thoại, những di tích, chứng tích của kho lưu trữ dân gian suốt miền Tây Sơn, Tuy Phước len lỏi vào băng hình. Các thế võ, bài quyền, đường roi của các cụ già, các cô cậu trẻ trung, các em bé lên năm lên bảy thấm đẫm tình nhân ái cao cả. (Theo Phạm Ngọc Cảnh)

GẶP MỘT HUYỀN THOẠI ĐẤT VÕ - VÕ SƯ PHAN THỌ

Bình Định được định danh là miền đất Võ. Tên gọi ấy không phải ngẫu nhiên mà thành, mà được khởi nguồn từ truyền thống thẳm sâu của miền đất này. Ở Bình Định, ẩn sau lũy tre làng bình dị như bao làng quê khác, là những làng võ với những võ sư một thời danh chấn. Một trong những huyền thoại còn lại ở đất Võ là võ sư Phan Thọ.

Võ sư Phan Thọ múa kiếm.

* Bán bò... học võ

Cả cuộc đời, võ sư Phan Thọ luôn đau đáu với tâm niệm tầm sư đặng trau dồi vốn võ học. Nhẩm tính lại, ông đã dành tới 18 năm để học tới 7 ông thầy.

* Thưa ông, bây giờ nhiều võ sĩ trẻ, chỉ cần hai, ba năm đã thi đấu và giành huy chương. Vậy mà ông cần những 18 năm?

- Có lẽ, cái mệnh của tôi là phải cần mẫn mà đi lên. Con đường học võ cũng vậy. Tôi bắt đầu học từ năm 17 tuổi. Đầu tiên là học ông Ký tại Phú Phong. Học được một năm, phải nghỉ vì ông thầy mắc tập quấn đài. Vậy là tôi sang An Vinh học với võ sư Cai Bảy, học đúng 5 năm, đã bắt đầu theo thầy đi đánh đài. Sau đó, chuyển sang học với cụ Tàu Sáu ở làng võ An Thái. Được một năm, thầy qua đời… Cứ vậy, lần lần, tôi học hết với những ông thầy giỏi trong vùng và thu lượm đủ “thập bát ban binh khí”. Cậu cứ tính thử xem, 18 binh khí gồm: quyền, roi, siêu, kiếm, đao, thương, kích, giản, phủ, chùy, xà mâu, côn, xích, thước, ba chỉa, chấn thiên cung và độc tiên (khăn xéo). Mỗi môn quấn cho chuẩn, phải học ít nhất ba thảo; 18 môn là 54 thảo. Bên cạnh đó, phải học thêm 10 bài đấu luyện. Nếu sử dụng 18 môn binh khí một cách nhuần nhuyễn, lại thật rành các chiêu thức của đấu luyện, thì hiệu quả sẽ cao biết bao nhiêu, trăm người có thể địch vạn người. Đó là điều giải thích vì sao những đội quân của Quang Trung hoàng đế luôn bách chiến bách thắng. Mà 18 môn ấy, có phải học một thầy là thành đâu. Phải biết rút tỉa từ từ. Chẳng như, học ông Lê Thái và Lê Thành Phiên, hai học trò của võ sư Hồ Ngạnh rất giỏi về roi, thước, xích; học võ sư Tàu Sáu kiếm, đao; học làng võ An Vinh quyền, bồ cào, lăng khiên… Tôi nghiệm ra rằng, trong võ có thế và có thần, thế là những mánh khóe nhà nghề, thần là từ sự tập luyện. Mọi bí quyết là từ đó mà ra. Cho nên, phải tập cho giỏi, cho tinh. Còn như lớp trẻ bây giờ, mới học được mấy môn, học được ba bài thảo đãõ đi thi, thi đậu có huy chương rồi thì lo đi dạy ngõ hầu kiếm miếng cơm nuôi gia đình, ai mà đủ nghị lực và tâm huyết để toàn tâm toàn ý theo thầy học cho đến đầu đến đũa như hồi trước. Mình biết và thông cảm với tụi trẻ, nhưng cũng không khỏi những âu lo về sự mai một vốn võ học.

Khúc sông Kôn nối hai làng võ An Vinh và An Thái, nơi từng in bóng võ sư Trương Văn Hiến - người thầy của anh em Tây Sơn - trong những ngày đầu tiên từ đàng Ngoài vào đàng Trong lập nghiệp, cũng lại là nơi gắn với chặng đường tầm sư học võ của võ sư Phan Thọ. Ngày nhỏ, ông đã bao lần vượt sông để sang làng võ An Vinh, rồi sau này, lại trở ngược lại bên An Thái học võ.

* Nghe đâu, ông từng phải bán bò để đi học võ. Vậy ngày ấy, khi có ý định bán bò, ông có phải hỏi ý kiến của… vợ?

- Tất nhiên chứ chú. Hồi đó, tôi đã 32 tuổi, nhà có hai con bò cày, mà mình muốn đi học võ nhưng lại không tiền. Vậy là tôi hỏi vợ: Nhà có hai con bò, con nào xấu xấu thì bà cho tôi một con để bán lấy tiền học võ? Vợ tôi đồng ý ngay và nói: Ông học võ, có bán hết cả hai con cũng được. Mà tôi nghiệm ra rồi, những người học võ muốn giỏi đều phải nhờ một tay vợ cả đấy.

* Việc tập luyện ngày đó hẳn không chỉ mất nhiều thời gian mà còn rất công phu?

- Công phu thì khỏi nói. Chẳng như, đầu tiên là luyện với tàu chuối. Tàu chuối rọc lá, ôm cả ôm, hai người hai bên cứ phóng tới. Mình bên này phải dùng tay để hớt. Thành thục rồi thì chuyển sang dùng tre. Những cây tre già, chẻ ra làm 6 miếng, vớt hai đầu, cũng lại phóng và hớt. Xong lại đi tìm đá vừa tay về luyện cho cứng tay… Công phu chứ. Tính ra, mỗi môn muốn học cho thông, cần tới cả ba đến bốn năm lận.

Lão võ sư Phan Thọ với chiếc răng nanh của con heo rừng do ông quật chết.

* Quật chết lợn rừng

Trong câu chuyện truyền tụng của người dân dất Võ về võ sư Phan Thọ, không thể thiếu câu chuyện đấu lợn rừng của ông. Nay, lão võ sư vẫn cất giữ hai chiếc răng nanh lợn rừng để làm kỷ niệm cho một lần quyết đấu. Lão võ sư nhớ lại:

- Đó là năm 1964, hồi đó, thôn Thủ Thiện Hạ có con lợn rừng ra ăn mía. Con thú răng nanh dài hơn gang tay, lừng lững như con cọp, mình nó quật ba thanh niên bị thương, phải chở đi nhà thương. Người dân trong làng nghe tôi có võ, mới chạy vào kêu ra. Tôi ra tới nơi, kêu thanh niên hai thôn tập hợp cây gậy lại, đứng xung quanh la hét ầm ầm làm nó rối trí, rồi mình tôi nhảy vào quần thảo. Con lợn rừng hai mắt đỏ ngầu, da đen trũi, cứng như thép. May mà tôi có sức, lại nhanh, nên con lợn rừng hộc vô cắn đến đâu là tôi nhảy tránh, rồi dùng cây đánh đến đó. Cây này gãy thì người đứng ngoài lại quăng cây khác vô. Sau ba tiếng đồng hồ quần thảo, cuối cùng, khi con thú đã mệt hung, tôi dùng luôn cây vồ đánh giữa tam tinh, hạ gục.

* Quật chết lợn rừng, nhưng đã có lần võ sư thượng đài bị thua?

- Đó là trận thua duy nhất trong đời võ học của tôi và cũng là trong lần thượng đài đầu tiên. Lúc đó, tôi 34 tuổi, thượng đài nhưng thiếu kinh nghiệm nên đã thua võ sư Bùi Xuân Cảnh. Tức khí, tui lại tiếp tục đi học thêm… Nay ngẫm lại, chính nhờ trận thua đầu tiên đó, tui bớt đi tính hiếu thắng tuổi trẻ, nên sau này, vừa học vừa thượng đài mà không thua trận nào.

Năm 1998, có hai nam võ sĩ 4 đẳng Taekwondo từ Hàn Quốc tìm đến gặp ông so tài. Cả hai đều lần lượt bị ông hạ đo ván, bái ông làm thầy và xin theo học võ.

* Ngày đó, võ sư đã 73 tuổi, vậy võ sư dùng thế nào để thắng được hai võ sĩ trẻ?

- Họ ỷ sức, đá rất nhanh và mạnh. Họ đá một cú làm nứt cả cột nhà trên của tôi, dấu vẫn còn đấy. Cho nên mình mà cứ ào vô, trúng là gãy tay liền. Cho nên, tui phải lấy cái nhanh nhẹn, dùng chước chun vô, rồi đánh ngay hậu môn, làm họ té rướm cả máu đầu. Thua rồi họ chất vấn tôi: “Ở Quy Nhơn, toàn võ sĩ trẻ không mà không đánh lại tụi tôi. Còn ông già mà đánh lại được là sao? Tôi trả lời: Tui già, ông quấn tui thì tui quấn lại ông là chuyện thường. Còn dưới Quy Nhơn, mấy em còn trẻ, họ sợ đánh các ông chết không về nước được, nên không đánh chứ đâu phải họ dở”.

Hình ảnh võ sư Phan Thọ trên trang bìa tạp chí “Timeout”.

* Đọng bóng chiều

Lão võ sư Phan Thọ là người có đệ tử ngoại tỉnh tìm đến theo học rất nhiều. Tính đến nay, ông đã truyền dạy cho hàng trăm đệ tử, đến từ nhiều địa phương trong nước như Lạng Sơn, Phú Thọ, Hải Hưng, Hà Nội, Hải Phòng, Nha Trang, TP. Hồ Chí Minh, Kiên Giang… Người học ít cũng vài ba tháng, còn có người học đến vài ba năm. Nhiều học trò của võ sư Phan Thọ giờ đã trở thành huấn luyện viên, tiếp nối thầy truyền bá võ Bình Định đi khắp mọi miền đất nước.

“Đối với các võ sinh, dù tôi yêu thương như con cháu trong nhà, nhưng việc truyền dạy võ thuật cũng phải tuân theo quy tắc. Đối với những người chỉ học một thời gian ngắn, mình không có nhiều điều kiện để nhận xét, hoặc những học trò đã phát hiện có vấn đề về đạo đức, tôi thường dạy những bài võ mang tính biểu diễn là chính, để đề phòng họ sử dụng vào mục đích xấu” - lão võ sư tâm sự.

Nhưng hai năm nay, võ đường Phan Thọ gần như khép cửa. Ngay khoảnh sân trước nhà vẫn dùng làm nơi tập võ cho võ sinh, nay cỏ đã mọc đầy. Lão võ sư nay thôi không mở lò dạy võ, thay vào đó, trong lần ghé thăm ông, tôi gặp những người đến xin thuốc võ. “Ngày đó, tôi chuyên làm chân chạy đi mua thuốc võ cho thầy, lại được chỉ dạy thêm, nên cũng biết ít nhiều về thuốc võ. Giờ chân tay yếu hung rồi, múa chút đã vã mồ hôi, nên tôi chuyển sang làm thuốc. Cũng là võ cả đấy” - Nói vậy, nhưng đôi mắt lão võ sư thoáng nét ưu tư. Tôi hiểu, đó là nỗi ưu tư trước thực trạng ngày càng ít những người đủ niềm say mê và kiên trì đi theo nghiệp võ. Ngay các con ông, cũng chỉ kịp học vài môn binh khí, ít chiêu thức, rồi kẻ nghề này, người nghiệp kia, lao vào đời kiếm sống…(Theo Lê Viết Thọ - Báo Bình Định)