Hiển thị các bài đăng có nhãn qui nhơn. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn qui nhơn. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 4 tháng 7, 2011

CHÀNG LÍA & TRUÔNG MÂY



Khi lớn lên tại Bình Định, tôi thường nghe câu hát:
Chiều chiều én liệng Truông Mây,
Cảm thương chú Lía bị vây trong thành.
Hay: cảm thương chàng Lía bị vây giữa dòng.
Và khi có đám tang, người ta di chuyển quan tài thường có một người, đứng trên quan tài gõ 2 cây gậy để điều khiển nhóm khiêng quan tài, tiếng địa phương gọi là Ông Chóp Kích??? Có người nói rằng, đây là biểu tượng của chàng Lía???
Truông Mây có tên nữa là Hóc Sâu, ở xã Ân Đức, huyện Hoài Ân. Truông chạy từ thôn Phú Nhuận ở phía Bắc đến thôn Vĩnh Hòa ở phía Nam, dài độ vài ba cây số. Hai bên mây mọc thành rừng, gai góc tua tủa. Cho nên gọi là Truông Mây.
Phía Đông, nhánh sông Kim Sơn chảy từ Nam ra Bắc, cuồn cuộn lục lìa. Phía Tây núi non trùng điệp, và hòn Núi Một tách ra đứng sừng sững bên truông.
Quang cảnh man dại. Người cứng bóng vía đến đâu, lúc gió chiều sương sớm quạnh quẽ hắt hiu, một mình đi ngang qua cũng cảm thấy rờn rợn. Lại thêm nhiều cọp. Cho nên hành khách ít dám qua lại, ngày nay cũng như ngày xưa, thời bình cũng như thời loạn.
Ít người qua lại, nhưng ở Bình Định không mấy ai không biết đến Truông Mây. Đó là nhờ Chàng Lía.

 Chàng Lía, hay Chú Lía, là ai?

Là một hiệp sĩ áo vải, sống vào thời chúa Nguyễn (không biết chắc chắn thời Chúa nào). Cha là người huyện Phù Ly, ở gần "miền Bích Khê". Mẹ là người Phú Lạc, huyện Tuy Viễn. Lía mồ côi cha. Mẹ đem về nuôi ở quê ngoại. Lớn lên cho ở chăn trâu cho một phú hộ trong miền.
Lía rất thương mẹ. Đến ở nhà người, nhưng tối nhất định trở về với mẹ. Và những lúc ra đồng, vào rừng, hễ bắt được con cá con chim đều để dành về dâng cho mẹ. Những khi không bắt được chim cá, thường bắt trộm gà vịt ở các thôn xóm xa, làm thịt mang về, nói dối rằng vịt nước, gà rừng. Nhiều lần, bà mẹ sinh nghi, không chịu ăn, gạn hỏi:
- Bắt trộm của ai?
Lía năn nỉ:
- Thấy mẹ khổ, Lía kiếm về nuôi mẹ. Mẹ ăn đi cho Lía vui lòng.
Bà mẹ nhất định không ăn thì Lía chui đầu vào lòng khóc đến lúc mẹ chịu ăn mới thôi. Bà mẹ giận thì Lía xin chừa. Nhưng rồi thỉnh thoảng vẫn đem về không chiếc đùi gà thì cũng nửa chân vịt.
Lía trông không có gì khác chúng bạn. Thân vóc cũng không có gì vạm vỡ, song sức mạnh thật phi thường. Mỗi lần gây sự đánh nhau, Lía chấp hàng vài ba chục trẻ em đồng lứa. Những khi hai trâu báng lộn, một mình Lía nắm một đuôi trâu, cả bọn mục đồng nắm một đuôi, kéo lui ra không cho báng. Lúc nào trâu của Lía cũng bị kéo lui xa hơn. Bởi thế bọn mục đồng đều khiếp sợ Lía. Lía bảo gì phải nghe theo nấy, không ai dám cãi, cũng không ai dám tỏ ý bất bình.
Một hôm cao hứng, Lía bảo bọn trẻ vật một trâu nghé của Lía chận, xẻ thịt thui ăn. Ăn xong sai đem tất cả da xương và lông lá vào rừng chôn dấu kỹ, chỉ để lại đuôi trâu. Lía lấy đuôi cắm xiên xiên xuống đất, rồi khuân một tảng đá to lớn đè lên trên, chừa ló mỏm chót với chòm lông đen. Đoạn chạy về nhà báo cùng chủ:
- Trâu đương ăn, bỗng rống lên một tiếng, rồi chui tuột xuống đất. Chúng tôi nắm đuôi kéo không lên.
Chủ nhà lật đật chạy ra xem. Thấy đuôi trâu, nắm kéo thử, nhưng mắc cứng nhổ không ra. Hỏi đoàn mục đồng, chúng đều nói theo Lía. Sau dò biết được sự thật, chủ nhà tức mình đuổi Lía ra khỏi nhà.
Lía về ở cùng với mẹ. Thấy mẹ làm lụng đầu tắt mặt tối, mà tháng ngày vẫn hụt trước thiếu sau, bèn lén đi bẻ bí trộm, đào khoai trộm… đem về giúp mẹ. Bà mẹ rầy rà mãi không được. Mong nhờ chữ nghĩa thay đổi tánh tình, bà cho Lía đi học. Lía học rất tối, lại hay gây gổ, đánh đá bạn bè. Thầy dạy mãi không được, phải đuổi ra khỏi trường.
Sợ mẹ không dám về nhà, Lía đi lang thang trong rừng. Chợt thấy một lão trượng đương đánh cùng cọp. Lão trượng râu tóc bạc phơ, nhưng diện mạo quắc thước, tay kiếm lanh như chớp. Còn cọp là một vện tàu cau, vừa lớn vừa dữ. Hai bên đánh nhau cả buổi vẫn không bên nào chịu nhượng bên nào. Rồi hai bên đều dừng lại, đứng thủ thế ghìm nhau. Lía đi lẻn ra phía sau lưng cọp, thình lình nhảy bổ tới, tay ôm cổ, chân kẹp hông. Cọp thất kinh nhào lộn mấy vòng, nhưng Lía đeo cứng không sao hất ra nổi. Cọp thất thế, vuốt không dùng được, nanh không dùng được, chỉ cố sức vùng giãy để thoát thân. Cọp càng vùng giãy, Lía càng siết chặt. Cọp nghẹt thở, lần lần đuối sức rồi tắt hơi. Lão trượng vui mừng đến hỏi. Lía thưa rõ lai lịch. Lão trượng tỏ ý muốn đem về nuôi. Lía hớn hở đưa về xin phép mẹ. Bà mẹ làm lễ rồi gởi con cho lão trượng. Lão trượng để cọp lại cho mẹ Lía xẻ thịt bán làm vốn nuôi thân và dắt Lía lên núi.
Lão trượng vốn là một võ tướng của nhà Lê. Vì chán họ Trịnh, ghét họ Nguyễn, bỏ quan về ở ẩn. Lão trượng dạy Lía võ nghệ. Lía học văn thì tối, mà học võ lại rất sáng. Học đâu thuộc đó. Học quyền xong, học sang kiếm, côn… Môn nào cũng tinh nhuệ. Lía lại tự luyện được phép phi thân, đứng đỉnh núi này nhảy sang đỉnh núi kia một cách dễ dàng như nhảy qua khe suối. Lại có thể đứng dưới đất nhảy lên đọt cây cao đứng như con chim, rồi nhảy xuống nhẹ nhàng như một chiếc lá rụng.
Lía ở núi hơn năm năm. Sau khi lão trượng qua đời thì trở về cùng mẹ. Lúc bấy giờ Lía đã trưởng thành, thường ngày lên núi kiếm thịt về nuôi mẹ. Nhưng tánh khí ngang tàng, không chịu nổi những cảnh bất công trong xã hội, nên thường can thiệp vào việc người. Bọn cường hào, ô lại rất ghét, nhưng sợ không dám làm gì.
Một hôm, một tên lính nha về làng, cậy thế hiếp đáp dân chúng, Lía nổi giận đánh chết. Bọn cường hào được dịp trả thù, liền đi báo quan. Quan cho lính đến vây nhà bắt. Biết rằng không thể ở quê nhà được nữa, Lía bèn cõng mẹ, nhảy chuyền từ nóc nhà này sang nóc nhà nọ, chạy ra bờ sông Côn, nhảy sang qua Phú Phong, đi thẳng vào núi xanh trú ẩn.

Vào núi, Lía gặp một đoàn lục lâm mời làm chúa. Lía sai sửa sang thành Uất Trì (còn gọi là Thành Lía) của Chiêm Thành ở Bá Bích làm sơn trại. Ngày ngày, Lía và đám lâu la kéo nhau đi ăn cướp, dân tuần, lính canh không chống nổi, ai nấy đều khiếp sợ. Nhiều nhà giàu thuê võ sĩ đến giữ tài sản nhưng tất cả xa gần đều thất đảm mỗi khi bọn Lía đến. Vì tay côn của Lía mỗi khi vung ra thì hàng nghìn người phải ngã quỵ, không một võ sĩ nào có thể chịu nổi một roi. Bởi vậy tiếng tăm của bọn Lía lừng lẫy khắp nơi. Không ai còn dám lãnh giữ của mướn, và bọn Lía đến đâu, không ai dám chống cự.
Nhưng không bao giờ Lía lấy của những người không dư ăn dư để, mà chỉ lấy của những nhà giàu, nhất là nhà giàu bất nhân thất đức. Lía lại đặt ra lệ:
- Nếu chủ nhà biết điều đem của ra dâng, thì bọn Lía lấy hai phần để lại cho chủ một phần. Vàng bạc, lúa thóc cũng như bò trâu heo dê. Bằng kháng cự thì bị đánh lấy hết. Nếu đi báo quan để cầu cứu, thì nhà cửa bị tiêu tan, có khi còn bị thiệt mạng.
- Những của cướp được, đem về trại một phần, còn bao nhiêu đem phân phát cho người nghèo khó, trước hết là người trong địa phương bị cướp.
Bởi vậy, chỉ có nhà giàu oán bọn Lía mà thôi.
Lại thêm, chẳng những Lía ăn cướp của nhà giàu, đem san sẻ cho nhà nghèo, mà còn luôn luôn bênh vực, che chở cho những kẻ yếu thế bị hà hiếp. Nhiều tên cường hào, nhiều tên tham quan ô lại bị xẻo mũi cắt tai, hoặc bị bể đầu vỡ mặt.
Kẻ cầm quyền tìm đủ mọi cách để trừ khử bọn Lía, song nơi sào huyệt thì không dám vào vì núi khe hiểm trở, một vào không còn mong ra. Còn những khi có vụ cướp xảy ra, hễ quan quân hay tin kéo đến, thì bọn Lía đã đi rồi. Đôi lúc gặp được lại chỉ thêm khổ cho quân lính mà thôi, vì phần thì ngọn roi của Lía vương nhằm ai thì không còn mong sống, phần thì đồng bào tìm cách ủng hộ ngấm ngầm… không tài nào bắt được. Cuối cùng phần ai nấy lo!
Lía vào Bá Bích được ít lâu thì bà mẹ tạ thế. Không nỡ để mẹ nằm nơi quê người, Lía quyết đem di hài về chôn ở Phú Lạc. Nhưng chôn ở đồng bằng, sợ về thăm viếng bất tiện, lại sợ bọn cường hào manh tâm xâm phạm đến phần mộ, Lía bèn chọn đỉnh Trưng Sơn. Trưng Sơn ở Bắc Ngạn sông Côn, cách sơn trại của Lía chừng năm, sáu cây số đường thẳng, xiên xiên về hướng Tây Bắc. Để đưa mẹ về, Lía đội quan tài lên đỉnh núi Chớp Vàng ở phía ngoài sơn trại. Một tay đỡ quan tài, một tay cầm chiếc mâm đồng ngắm về hướng Trưng Sơn, ném mạnh. Mâm đồng vút bay, Lía đội quan tài nhảy theo đứng trên mâm, rồi lấy thế nhảy vọt một nhảy nữa đến Trưng Sơn. Chôn cất mẹ xong, Lía khuân một tảng đá to đặt lên trên mộ để giữ nắng mưa, và kê hai thớt đá nhỏ lên nhau ở bên mộ để ngồi khóc mẹ.
Mẹ mất rồi, Lía buồn bỏ Tuy Viễn ra Phù Ly thăm mộ cha rồi thẳng đường đi thẳng ra phía Bắc. Một đoản côn, một khăn gói, lang thang hết Phù Ly đến Bồng Sơn.
Một buổi chiều Lía đi ngang qua Truông Mây. Tứ bề vắng lặng. Thấy đại thế hiểm yếu, dừng chân ngắm nhìn. Bỗng một toán cướp, kẻ hèo người mác, từ trong rừng kéo ra đó đường:
- Muốn qua truông, phải để khăn gói xuống.
Lía cười:
- Ai đời ăn cướp lại giựt của ăn cướp bao giờ.
Bọn cướp không thèm đáp, áp tới đánh, Lía đưa nhẹ cây đoản côn ra đỡ. Mấy tên ngã lăn. Mấy tên khác xông vào, cũng bị gạt ngã lăn nữa… Chúng thất kinh chạy lên núi báo cùng chủ trại.
Chủ trại là hai tên cướp nổi danh, tục gọi là cha Hồ và chú Nhẫn. Cha Hồ, Chú Nhẫn nghe báo liền vác đại đao xuống núi. Trông thấy tướng mạo của Lía tầm thường, vóc vạc lại không lấy gì làm cao lớn, cha Hồ, chú Nhẫn chê không xứng tay… Lía nổi xung đánh một côn. Cha Hồ đưa đao lên để thì đao văng. Chú Nhẫn tiếp đánh. Lía hất đao co chân đá lăn cù. Cha Hồ chú Nhẫn thất kinh! Hỏi ra, biết là Lía, mừng rỡ đó lên sơn trại, mở tiệc chung vui. Lía cho biết việc mình. Cha Hồ, chú Nhẫn liền tôn lên làm đệ nhất trại chủ.
Lía sửa đổi kỷ cương, không cho chận đường cướp giựt nữa, và đem thi hành chánh sách đã áp dụng ở quê hương: Lấy của nhà giàu chia cho nhà nghèo. Truông Mây nổi tiếng hơn trước. Bọn giàu có quyền thế đêm ngày lo sợ nơm nớp. Còn đám bình dân thì vui vẻ làm ăn. Người đi qua Truông Mây không còn phải lo nộp tiền mãi lộ.
Được ít lâu ở thành Quy Nhơn tổ chức cuộc thi võ để chọn nhân tài cầm quận đi đánh Trịnh. Cha Hồ, chú Nhẫn bàn cùng Lía đi lập công danh. Lía ưng thuận, cùng cha Hồ, chú Nhẫn thay đổi y trang xuống núi.
Thanh thế Truông Mây tuy lừng lẫy xong không ai biết mặt những kẻ cầm đầu. Nhờ vậy mà bọn Lía vào thành được vô sự. Nhưng lại rủi gặp phải viên giám khảo là một tên tham quan, lấy tiền tài làm chủ nghĩa. Bọn Lía không chịu lo lót nên bị đuổi ra như một số võ sĩ chỉ đến với tài năng. Bọn Lía tức mình về Truông Mây kéo lâu la xuống đốt phá trường thi và bắt giết viên giám khảo. Nhân lúc bất ngờ, đánh phá luôn kho lương và cướp đem về núi một số lớn. Tuần phủ Quy Nhơn ra quân truy kích. Nhưng đến Truông Mây thì bị đánh lui.
Quyết tảo thanh Truông Mây, tuần phủ cho thêm binh đến vây đánh. Nhờ thế núi hiểm xung, bọn Lía giữ vững được sơn trại.

Một đêm, trong khi quân lính bao vây sơn trại, Lía cùng một ít quân lâu la lẻn ra đường núi, đi thẳng đến thành Quy Nhơn. Thừa lúc tối trời, Lía cõng lâu la nhảy vào thành, phóng hỏa đốt các doanh trại. Quân canh không trở tay kịp. Lửa cháy ngất trời. Nhân dân trong thành tưởng giặc đến cướp thành, kéo nhau mà chạy. Kẻ chạy lên, người chạy xuống… hớt hải quấn quít, xô lấn nhau, dậm đạp nhau. Tiếng khóc tiếng la vang dội khắp đây đó… Viên tuần phủ giật mình thức dậy, vừa bước chân xuống đất thì đầu liền bay! Người ái thiếp cùng chung gối bị bắt mang đi…
Không biết giặc nhiều ít thế nào, sợ Quy Nhơn bị thất thủ, bọn quan lại phò tá viên tuần phủ liền hỏa tốc gọi quân cứu viện về giữ thành. Phần bị Lía gặp giữa đường chận đánh, phần bị cha Hồ chú Nhẫn thúc lâu la đuổi theo đánh, quân Quy Nhơn thất kinh không dám chống cự ném khí giới chạy thoát thân …
Được tin Quy Nhơn có biến, quan Thừa Tuyên dinh Quảng Nam, một mặt cho binh vào cứu viện, một mặt làm sớ tâu về Phú Xuân. Chúa Nguyễn cử người vào trấn Quy Nhơn và cấp thêm một đạo tinh binh để dẹp giặc.
Lía biết trước cho đắp thành lũy thêm cao và mở thêm đường bí mật để tiếp tế cho được dễ dàng trong khi bị bao kích. Địa thế đã hiểm, việc phòng bị lại chu đáo, nên Truông Mây bị công phá mấy năm liền vẫn không chút nao núng. Liệu dùng sức không thắng nổi, viên trấn thủ Quy Nhơn rút quân về để mong thắng bằng mưu. Dò biết nàng ái thiếp của cựu tuần phủ, từ khi bị bắt về trại, được Lía tin yêu lấy làm vợ, y bèn tìm người thân quyến của nàng cho vào trại dụ dỗ làm nội ứng.
Mưu chước đã thành, chỉ còn chờ cơ hội.
Một hôm bọn Lía đánh cướp được một đám lớn, về xẻ bò mổ trâu ăn mừng. Vợ Lía lén bỏ thuốc mê vào rượu. Cả trại đều say vùi. Lía và cha Hồ chú Nhẫn bị nàng ép uống, cũng say. Hồ Nhẫn thì nằm gục nơi bàn tiệc mà ngủ. Còn Lía thì gượng vào nội tẩm. Lúc bấy giờ trời đã khuya.
Nơi Lía nằm không để vật gì khác hơn là một tấm phản ngựa gõ độc chiếc, dày hơn một gang, rộng năm gang và nặng đến mươi người khiêng. Lúc nghỉ ngơi Lía cởi trần nằm sải trên phản, không cần chăn, không cần gối.
Lía lảo đảo vào nằm sải nơi phản. Vừa đặt lưng thì ngủ thiếp. Vợ Lía lấy dây thừng trói tay chân chắc chắn rồi trói ghì cả châu thân vào tấm phản. Lại biết Lía có đầu tóc dài và lợi hại như đầu tóc Lã Bố, nàng rẽ mái tóc vóc thành hai đuôi sam làm dây cột siết đầu Lía vào phản. Nàng trói luôn cha Hồ chú Nhẫn bỏ nằm giữa trại. Đoạn mở cửa thành đi thẳng về Quy Nhơn báo tin cho viên trấn thủ.
Viên trấn thủ Quy Nhơn đem quân lên trại Lía thì đã gần sáng. Cả trại đều còn say. Trong ngoài im phăng phắc. Cửa thành bỏ trống. Nhưng viên trấn thủ còn ngại Lía bày mưu gạt gẫm nên không dám cho quân nhập thành. Quân vây thành đợi trời thật sáng. Sau khi cho người dò la hư thiệt, viên trấn thủ hô binh ùa vào thành. Lúc bấy giờ một ít lâu la vừa tỉnh rượu thấy quân lính kéo vào, thất kinh la ó. Nhưng bọn lâu la giật mình tỉnh dậy, chưa kịp đứng lên thì lớp đã bị chết, lớp bị bắt! Cha Hồ, chú Nhẫn không cựa quậy nổi! Lía nghe ồn, mở mắt, thấy mình bị trói, nổi giận hét lên một tiếng, giãy đứt dây trói chân… Vừa lúc ấy quân lính ùa vào bắt. Lía vùng đứng lên, mang tấm phản sau lưng. Quân lính áp tới, Lía quay tròn mình, dùng phản làm binh khí, đánh ngã tất cả. Ra ngoài thấy toàn thể bộ hạ bị hại, liệu không phương cứu vãn, bèn mở vòng vây, mang tấm phản nhảy lên núi. Quân lính không thể đuổi kịp, đánh phá hủy sơn trại, rồi dẫn bọn cha Hồ chú Nhẫn về Quy Nhơn.
Lía lên núi, cứ mang tấm phản, theo đường rừng mà đi. Phần thương đồ đảng bị hại, phần giận con đàn bà gian ác, Lía muốn xuống thẳng thành Quy Nhơn để trả thù. Nhưng không sao cởi được trói. Đi mãi trong rừng ngót mấy ngày đêm, chợt nhớ lại cảnh cũ, bèn băng rừng về Phú Phong. Vào Bá Bích thấy thành lũy đã bị phá tan hoang, cảnh vật đìu hiu quạnh quẽ! Phần thì đói, phần thì mỏi, phần thì buồn thương… Lía không muốn đi nữa. Dựa tấm phản vào vách đá đứng nghỉ, lòng phân vân chưa biết phải làm gì đây. Chợt một ông lão, dép da trâu, vai mo cơm đòn gánh, tay xách rựa, ung dung đi tới. Lía gọi đến nhờ mở dây. Ông lão không chút chần chờ. Mở xong hỏi:
- Kẻ anh hùng sao nỗi sa cơ thất thế?
Lía đáp:
- Có cơm cho ăn rồi sẽ nói chuyện.
Ông lão trao mo cơm bầu nước. Lía ăn uống xong, thuật hết mọi nỗi rồi nói:
- Chỉ vì một con đàn bà mà bạn bị hại, thân bị nhục tội thật đáng chết. Ơn lão trượng mở giùm dây trói, cứu giùm đói, không biết lấy gì đền đáp. Kính dâng vật này để đem xuống phủ lãnh thưởng.
Nói đoạn giựt rựa nơi tay ông lão, tự chặt vào cổ… Máu phun đầu rơi!
Ông lão ứa nước mắt nói:
- Sao nhà ngươi nóng nảy thế?! Lão đây tài sơ sức yếu phải đợi chết già. Chớ nếu được như nhà ngươi thì há để cho bọn tham quan ô lại sống an nhàn trên mồ hôi nước mắt của dân chúng.
Rồi lo chôn cất Lía tử tế. Về nhà kể chuyện lại cho con cháu nghe, dặn không nên tiết lộ cho bọn quan quyền biết và nói:
- Nếu Lía gặp được người như Lưu Huyền Đức để phò, hoặc có một người như Phạm Tăng ra giúp, thì sự nghiệp nhất định vẻ vang. Có thiên tài mà không có thiện duyên, cũng trở thành vô dụng.
Lại nói:
- Những kẻ có tài xuất chúng, không thể đem tài năng ra giúp đời được, thì không làm ăn cướp còn biết làm gì để bài tiết được nổi uất hận ở trong lòng!
Còn viên tuần phủ Quy Nhơn ra sức truy nã Lía, lâu ngày không thấy thu được kết quả gì, bèn bỏ qua. Và để trừ hậu họa, sai phá bằng tất cả thành lũy và chặt hết mây ở nơi Truông.
Truông Mây hiện thời chỉ là kỷ niệm.
Và từ khi sào huyệt của cha Hồ, chú Nhẫn bị diệt, khách bộ hành thỉnh thoảng có đi qua. Đối cảnh nhớ người, bèn soạn ra câu hát:
Chiều chiều én liệng Truông Mây,
Cảm thương chú Lía bị vây trong thành.

Theo Quách Tấn - Nước Non Bình Định
Truông Mây Bây Giờ:
Truông Mây có tên nữa là Hóc Sâu, ở quận Hoài Ân, xã Ân Đức: Chạy từ thôn Phú Nhuận ở phía Bắc đến thôn Vĩnh Hòa ở phía Nam. Dài độ vài ba cây số. Hai bên mây mọc thành rừng, gai góc tua tủa. Cho nên gọi là Truông Mây. Phía đông, nhánh sông Kim Sơn chảy từ Nam ra Bắc, cuồn cuộn lục lìa. Phía Tây núi non trùng điệp và hòn núi Một tách ra đứng sừng sững bên truông. Quang cảnh man dại. Người cứng bóng vía đến đâu, lúc gió chiều sương sớm quạnh quẽ hắt hiu, một mình đi ngang qua cũng cảm thấy rờn rợn. Lại thêm nhiều cọp. Cho nên hành khách ít dám qua lại, ngày nay cũng như ngày xưa, thời bình cũng như thờ loạn, ít người qua lại, nhưng ở Bình Định không mấy ai không biết tiếng Truông Mây


QUA TRUÔNG MÂY

Trèo lên ngọn núi quê hương
tìm trong muôn mặt âm dương ngũ hành
tóc mây ràng cuộc tử sanh
bàn tay giữ một rách lành càn khôn
Lặng nghe bão Thái Sơn Côn
U Linh Thương sét, Tru Hồn Kiếm mưa
vang như sấm lặng như tờ
mê man hổ suối say sưa hạc ngàn
Tôi cầm một nắm đêm tàn
ném vào thành lũy bàng hoàng cung đao
qua truông mượn gió để chào
mượn đôi cánh én gọi hào kiệt bay.

Nguyễn Thanh Mừng
--------------------------------------------------

(*) Những chữ in đứng là tên các bài võ - Trích từ Hoàng Tuấn, Qui Nhơn


Thứ Tư, 15 tháng 6, 2011

Hàn Mặc Tử không mất vì bệnh phong ?

 
Những người mắc bệnh phong, tay chân thường bị hủy hoại dần và thời gian tử vong không dưới 10 năm. Vậy nhưng với Hàn Mặc Tử chỉ đúng 5 năm phát bệnh và khi chết cơ thể hoàn toàn nguyên vẹn chứ không hề bị hủy hoại như bất cứ một bệnh nhân cùi nào.

Theo những tư liệu bấy lâu nay thì thi sĩ Hàn Mặc Tử, nhà thơ tài hoa của phong trào thơ mới chết vì bệnh phong, một trong “tứ chứng nan y” theo quan niệm một thời.

Gần 70 năm sau ngày Hàn Mặc Tử ra đi, nhiều người thực sự yêu quý thơ và quan tâm đến cuộc đời tài hoa bạc mệnh của ông đã xâu chuỗi những mảng ký ức lại để hình dung rõ hơn về cuộc đời và cái chết của Hàn Mặc Tử. Một vấn đề được đặt ra là: Hàn Mặc Tử chết không phải vì bệnh phong?
Bệnh “phong” hay bệnh “phung”?

Trong cuốn Hàn Mặc Tử (NXB Võ Doãn Mai - 1942), tác giả Trần Thanh Mại có viết: “Đùng một cái, một buổi mai ngủ dậy, thi sĩ thấy mấy đầu ngón tay tê dại đi và không thẳng ra được, và soi gương thì thấy da mặt sượng sần mà hai gò má đã đỏ ửng. 

Chàng tuyệt giao với bạn hữu, với cả Mộng Cầm, sau khi thú thực với nàng nỗi đại biến của mình. Lẽ tất nhiên chàng cũng lấy lời cao thượng xin cởi những ước hẹn ngày xưa và dâng trả sự tự do lại cho nàng”.

Theo gia đình Hàn Mặc Tử, thì vào khoảng đầu năm 1935, họ đã phát hiện những dấu hiệu của bệnh phong trên cơ thể ông. Tuy nhiên, ông cũng không quan tâm vì cho rằng nó là một chứng phong ngứa gì đó không đáng kể.

Cho đến năm 1936, khi ông được xuất bản tập “Gái quê”, rồi đi Huế, Sài Gòn, Quảng Ngãi, vào Sài Gòn lần thứ hai, được bà Bút Trà cho biết đã lo xong giấy phép tờ Phụ nữ tân văn, quyết định mời Hàn Mặc Tử làm chủ bút, bấy giờ ông mới nghĩ đến bệnh tật của mình. Nhưng ý ông là muốn chữa cho dứt hẳn một loại bệnh thuộc loại “phong ngứa” gì đấy, để yên tâm vào Sài Gòn làm báo chứ không ngờ đến một căn bệnh nan y.

Năm 1938 - 1939, Hàn Mặc Tử đau đớn dữ dội. Tuy nhiên, ở bên ngoài thì không ai nghe ông rên rỉ than khóc. Ông chỉ gào thét ở trong thơ mà thôi.

Trước ngày Hàn Mặc Tử vào trại phong Quy Hòa, Nguyễn Bá Tín, em ruột của nhà thơ cho biết tình trạng bệnh tật của anh mình như sau: “Da anh đã khô cứng, nhưng hơi nhăn ở bàn tay, vì phải vận dụng sức khỏe để kéo các ngón khi cầm muỗng ăn cơm. Bởi vậy, trông như mang chiếc “găng” tay bằng da thô. Toàn thân khô cứng”.

Ông Nguyễn Bá Tín, trong một chuyến thăm Bệnh viện Quy Hòa, có đến thăm bác sĩ Gour Vile. Bác sĩ nói rằng: Bệnh cùi rất khó phân biệt. Giới y học (thời đó) chưa biết rõ lắm. Tuy triệu chứng giống nhau, nhưng lại có nhiều thứ. Ông bác sĩ quả quyết bệnh cùi không thể lây dễ dàng được.
Vậy tại sao Hàn Mặc Tử lại mắc chứng phong? Nhiều thông tin cho rằng, một hôm Hàn Mặc Tử đi dạo với bà Mộng Cầm ở lầu Ông Hoàng (Phan Thiết), qua một cái nghĩa địa có một ngôi mộ mới an táng thì gặp mưa. Bỗng ông phát hiện ra từng đốm đỏ bay lên từ ngôi mộ. Sau đó ông về nhà nghỉ, để rồi sớm mai ông phát hiện ra mình như vậy.

Tuy nhiên, về sau này, khi trả lời phỏng vấn tác giả Châu Hải Kỳ trên báo Phổ thông số 63, ra ngày 15/8/1961, bà Mộng Cầm cho rằng: “Tôi nhận có đi chơi lầu Ông Hoàng với Hàn Mặc Tử, có gặp mưa, có ngồi ở nghĩa địa, nhưng không phải vì đó mà Hàn Mặc Tử bị phong. Nếu Hàn Mặc Tử bị phong sao tôi không hề hấn gì cả? Hai người cùng ngồi núp mưa một chỗ kia mà”.

Sau này, thời gian cũng khỏa lấp dần, cũng không ai biết tại sao nhà thơ tài hoa này lại mắc chứng bệnh nan y đó.

Đó là căn bệnh do trực khuẩn Hansen gây nên. Trước đây vì thành kiến sai lầm rằng đây là căn bệnh truyền nhiễm nên bao nhiêu bệnh nhân đã bị hắt hủi, cách ly, xa lánh thậm chí bị ngược đãi (trôi sông, chôn sống, bỏ vào rừng cho thú dữ ăn thịt), thì Hàn Mặc Tử cũng không là ngoại lệ. Lúc này, gia đình ông phải đối phó với chính quyền địa phương vì họ đã hay tin ông mắc căn bệnh truyền nhiễm, đòi đưa ông cách ly với mọi người.

Sau đó gia đình phải đưa ông trốn tránh nhiều nơi. Việc đưa ông đi trốn tránh nếu xét về mặt hiệu quả chữa trị thì đúng là phản khoa học. Vì lẽ ra cần phải sớm đưa ông vào nơi có đầy đủ điều kiện chữa trị nhất lúc bấy giờ là Bệnh viện phong Quy Hòa.

Thực tế, bệnh phong chỉ lây trong những điều kiện nhất định, ít lây hơn nhiều so với bệnh lao, là chỉ khi tiếp xúc lâu dài với các thể phong nặng (phong hở) như phong ác tính, phong đang tiến triển, chảy nước mũi nhiều và có tổn thương lở loét ở da, ở bàn tay, bàn chân, đặc biệt đối với các trẻ nhỏ, khi sức đề kháng còn kém.

Các thể phong nhẹ khác như phong bất định, phong củ ít có khả năng lây hơn nhiều. Tỉ lệ lây giữa vợ chồng chỉ là 2-3%.
Mặc dù trong y văn đã có nói đến một số trường hợp lây phong do xuyên dái tai hoặc xăm trổ, nhưng ở Việt Nam từ hơn 100 năm nay ở các trại phong Quỳnh Lập, Sóc Sơn, Phú Bình, Sơn La, Quy Hòa chưa hề có cán bộ nhân viên y tế nào bị lây bệnh.

Bác sĩ Trần Hữu Ngoạn, Giám đốc Bệnh viện phong Quỳnh Lập sau đó ở Quy Hòa, nơi thi sĩ Hàn Mặc Tử đã điều trị trước đây, để làm gương cho nhân viên, ông từng đi, ăn, ở nhiều năm giữa khu bệnh nhân.

Thậm chí, bác sĩ đã lấy bệnh phẩm ở nơi tổn thương tự chích vào da nhiều lần, cho tới nay vẫn không bị lây bệnh để chứng minh rằng bệnh phong không phải là thứ đáng xa lánh, đáng sợ đến thế.

Gần đây có một tờ báo cho rằng, Hàn Mặc Tử chết vì bệnh “phung” chứ không phải bệnh “phong”. Thực tế, bệnh “phung” và bệnh phong khác nhau như thế nào?

Theo cách gọi của người miền Trung, thì bệnh “phung” chính là bệnh cùi, còn bệnh phong lại chính là bệnh tê thấp (phong thấp). Kể cả với cách gọi của người miền Bắc, thì bệnh “phong” vẫn được hiểu là phong thấp, hay tê thấp.

Khi những người mắc bệnh “phung” qua đời, dân thường mai táng ở những khu vực tách biệt và rắc vôi quanh mộ phần để chống lây nhiễm. “Phung” theo phương ngữ, chính là “phong” theo cách gọi phổ thông. 

Tuy nhiên, xét trên góc độ khoa học, thì trực khuẩn Hansen không có khả năng lây lan lớn, nhất là với những người có sức đề kháng cao và có thể chữa trị thành công bằng các phương pháp khoa học hiện đại chứ không phải bằng một tình thương mầu nhiệm nào cả.

Rõ ràng, một căn bệnh có quá nhiều tên gọi: phong, cùi, hủi, phung… Trong khi đó, giữa những tên gọi ấy có thể gây những hiểu lầm nhất định sang một căn bệnh khác thì quả là… không ổn. Chính vì vậy, nên gọi lại tên của căn bệnh này một cách khoa học như đúng cái tên trực khuẩn vốn có của nó: bệnh Hansen.

Hàn Mặc Tử mất vì bệnh gì?

Mộ thi sĩ Hàn Mạc Tử nằm trên đồi Gềnh Ráng, Qui Nhơn, Bình Định
Những người mắc bệnh phong, tay chân thường bị hủy hoại dần và thời gian tử vong không dưới 10 năm. Vậy nhưng với Hàn Mặc Tử thì cái chết của ông quá nhanh so với thời kỳ phát bệnh, chỉ đúng 5 năm và khi chết cơ thể hoàn toàn nguyên vẹn chứ không hề bị hủy hoại như bất cứ một bệnh nhân cùi nào. Một vấn đề được đặt ra, có phải thi sĩ tài hoa này từ giã cõi đời là vì bệnh phong đã đến hồi kết?

Trong câu chuyện với người em của thi sĩ Hàn Mặc Tử, bác sĩ Gour Vile cũng nói rằng kinh nghiệm từ các trại cùi, không có bệnh nhân nào chỉ đau có từng ấy năm mà chết được.

Ông trách gia đình Hàn Mặc Tử không đưa nhà thơ đi trại phong sớm. Và bác sĩ cho rằng, Hàn Mặc Tử chết là do nội tạng hư hỏng quá nhanh do uống quá nhiều thuốc tạp nham của lang băm trước khi nhập viện phong Quy Hòa. 

Ông Nguyễn Bá Tín từng giải thích về việc anh mình đi trại phong chậm như thế này: “Tôi cũng biết có nhiều người chạy chữa công khai, không có mặc cảm, không sợ tiếng tăm nên đã lành bệnh. Có lẽ mẹ tôi quá tế nhị về điểm này. Cũng có thể là bà cụ không nỡ để anh có cảm nghĩ về bệnh nan y của anh bị ruồng rẫy”.

Khi Hàn Mặc Tử phát bệnh, mẹ của ông mời một ông thầy ở Gò Bồi, ngoại ô thành Quy Nhơn đến bắt mạch bốc thuốc. Uống được chừng nửa tháng, đã có các biến chuyển tốt, những dấu đỏ trên người biến gần hết.

Lúc này, ông cảm thấy rất phấn khởi, chỉ nghĩ đến ngày lên đường vào Sài Gòn làm tờ Phụ nữ tân văn. Cũng vì nôn nóng, một hôm Hàn Mặc Tử uống thuốc gấp đôi liều lượng, người co giật ngã từ trên giường xuống đất khiến gia đình hoảng hốt. Từ đó tiến triển bệnh dường như bị chững lại.

Sau thời kỳ này, việc chữa bệnh cho Hàn Mặc Tử liên tục đổi thầy, đổi thuốc. Có một điều, ông không chịu chữa trị bằng tây y mà cứ theo đông y. Mô tả của những người thân của Hàn Mặc Tử trong thời kỳ này là: Thân thể không lở lói nhưng gầy sọm đi, nước da thâm nâu như tô lên thứ thuốc vẽ chỗ đậm chỗ lợt.

Lúc nhập viện, Hàn Mặc Tử chỉ nằm ở Bệnh viện Quy Nhơn ít hôm rồi được chuyển vào Bệnh viện phong Quy Hòa (20/9/1940) mang số bệnh nhân 1.134 và đến ngày 11/11/1940 thì qua đời tại đây. 

Nếu giả thuyết rằng Hàn Mặc Tử chết vì nội tạng hư hỏng quá nhanh nên cơ thể chóng suy sụp dẫn đến tử vong, thì bệnh phong cũng góp nguyên nhân làm ông tử vong nhanh như vậy. Sau này, có người cho rằng ông không chết vì bệnh phong mà chết vì chứng kiết lị. Vậy thực hư thế nào?. 
 
Hàn Mặc Tử trút hơi thở cuối cùng trong cô đơn lặng lẽ, không có bất kỳ một người thân nào bên cạnh. Gần 50 năm sau, người bạn đồng bệnh của ông là Nguyễn Văn Xê mới kể lại chi tiết những giây phút cuối cùng ấy trên tạp chí Sông Hương số 28 ngày 11/12/1987.

Hồi ký viết lại rằng, ngày 20/9/1940, có tiếng phanh xe ôtô trước Nhà thương nam làm bệnh nhân người nhìn qua cửa sổ, kẻ lẹ chân chạy ra gần chiếc xe. Mẹ Juetta lẹ làng chạy ra cửa tiếp hồ sơ nơi tay bác y tá đứng tuổi rồi đỡ bệnh nhân xuống. Đến giường số 3, mẹ dừng lại, nhìn hồ sơ và nhẹ nhàng nói: “Trí, đây là chỗ của con”.

15 giờ chiều hôm ấy, ông Xê bắt chuyện với Hàn Mặc Tử: “Tôi là Xê, người Huế, vào trại đã hai năm, hiện đang giúp việc cho các mẹ. Tôi còn nhỏ lắm, mới 21 tuổi thôi, xin anh Trí hãy gọi bằng em cho thân mật”, Hàn Mặc Tử lắc đầu: “Anh Xê đừng quan tâm chuyện tuổi tác, tôi cũng mới hai mươi tám”.

Hàn Mặc Tử nói với ông Nguyễn Văn Xê: “Khắp các tiệm thuốc bắc và các ông bà thầy thuốc nam ở Bình Định tôi đến chữa không sót một người, mà càng ngày thân thể ra thế này”.

Hàn Mặc Tử vào Quy Hòa được ba tuần. Nhờ sự chăm sóc chu đáo, tận tụy của các nữ tu dòng thánh François Dassise, mà đặc biệt là mẹ Juetta phụ trách Nhà thương nam là người lo lắng cho Hàn Mặc Tử nhất nên bệnh tình thuyên giảm rõ rệt.

Từ tuần lễ thứ tư, sinh hoạt của ông đều đều: 5h sáng dậy đi nhà thờ đọc kinh và rất sốt sắng chầu lễ, rước lễ; 7h cùng anh em bệnh nhân ăn điểm tâm cháo trắng với đường đen; 8h băng bó, uống thuốc hoặc chuyện trò với anh em đồng bệnh; 11h ăn cơm trưa rồi nghỉ ngơi; 14h30 đi nhà thờ đọc kinh lần hạt; đến 17h đi ăn cơm chiều.

Sang tuần thứ năm, Hàn Mặc Tử được mẹ Juetta chích thuốc trị bệnh thời đó do bác sĩ Gour vile, Giám đốc Bệnh viện Quy Nhơn bào chế với tên Huile de Cholmoogra để chích ven mỗi lần 1/2cc cộng với thuốc trị công phạt ác tính là Essene Teberentine nên bệnh có vẻ giảm do đó thường thấy Hàn Mặc Tử bách bộ lui tới ở hành lang Nhà thương nam hoặc ở vườn hoa ngồi suy tư trên ghế đá với tập giấy kẹp ở nách cầm cây bút chì nhỏ mòn cùn.

Hàn Mặc Tử sinh hoạt bình thường cho đến vào buổi trưa 30/10/1940, sau khi đi đọc kinh lần hạt ở nhà thờ về.

Cả buổi trưa cho đến tối ngày hôm đó (30/10/1940) ông Xê bận việc đến sáng hôm sau mới hay Hàn Mặc Tử đi kiết bị kiệt sức nên không thể đến nhà thờ.

Khi ông Xê đến thăm thì thấy Hàn Mặc Tử phờ phạc, xanh xao nhiều lắm nên ông đề nghị mẹ Juetta cho ông vào trong phòng liệt nằm cho tiện. Rồi suốt hơn một tuần lễ từ 30/10 đến 7/11/1940 thì bệnh kiết lị của Hàn Mặc Tử vẫn không thuyên giảm mà có phần tăng thêm nên người ông khô đét, gầy guộc xanh xao đến thảm não.

Đêm 8/11/1940, Hàn Mặc Tử đi tiêu rất nhiều lần, mỗi lần đi có một chút chất nhầy và vài giọt máu nên ông Xê thấy Hàn Mặc Tử mệt lả đến đi không nổi, ông phải dìu đi tiêu, rồi về giường nằm. 

Đêm càng về khuya thì sức ông Xê càng mệt nên đã ngủ quên chắn cả lối đi, không ngờ trong lúc ấy Hàn Mặc Tử tuột xuống giường đi không nổi nên đã lấy một cái âu ngồi lên đó mà đi tiêu.

Khi ông Xê giật mình thức giấc thì thấy Hàn Mặc Tử ngồi trong xó tối sau chiếc tủ con ôm bụng nhăn nhó nói: “Anh Xê ơi, đỡ tôi lên với”. Ông Xê đến đỡ Hàn Mặc Tử lên giường nằm rồi mới nói: “Sao anh không thức tôi dậy”, thi sĩ trả lời vô cùng mệt nhọc: “Tôi thấy anh cũng mệt nên để anh nghỉ một chút”. 

Sáng 9/11/1940, sau khi khám bệnh, mẹ Juetta bưng chén thuốc cho Hàn Mặc Tử uống xong nói: “Chiều nay có xe đi mời Cha Tuyên úy vào xức dầu cho con”, ông gật đầu và nói tiếng “dạ” rất nhỏ. Sáng 10/11/1940 lúc 6h45, Cha cho Hàn Mặc Tử được chịu phép xức dầu và rước lễ lần cuối.

Đêm 10/11, ông Xê trực, hai mẹ Juetta và soeur Julienne có đến thăm Hàn Mặc Tử ba lần và lần thứ ba khoảng 3h thì soeur Julienne cho biết từ đó đến sáng Hàn Mặc Tử sẽ chết.
Thời gian của đêm đó như chùng xuống, ông Xê nhìn Hàn Mặc Tử ngoài những lúc đau bụng đi tiêu, thì khi quỳ cũng như ngồi hoặc nằm, Hàn Mặc Tử đều đọc kinh cho đến ngày 11/11/1940 lúc 5h45 sáng thì ông nhẹ nhàng tắt thở.

Có người cho rằng con đường đi đến cái chết của Hàn Mặc Tử dù ngắn ngủi nhưng hồ như vật vã đau đớn suốt một chuỗi thời gian quá nặng nề. Chính vì ông bị suy sụp tinh thần nên bệnh tật càng có cơ hội tàn phá sức khỏe ông đến kiệt cùng. Và rất nhiều ý kiến cho rằng, một trong những điều tác động gây nên sự suy sụp ấy, chính là do bản thân nhà thơ có chứng tâm thần từ thời mới lớn, nên rất hay hoảng loạn và hoang tưởng.

Đây cũng là một ý kiến có sức thuyết phục vì thơ ông thường có những dấu hiệu của “cuồng điên hoảng loạn”, đặc biệt là những năm tháng cuối đời. 

Người em trai của ông, sau nhiều năm lặng lẽ chiêm nghiệm, đã công bố một kết luận vào năm 1991: “Trong quá trình chung sống bên anh tôi ghi nhận anh có hiện tượng suy nhược tâm thần, bệnh đó đã được nhiều người bạn tôi, chuyên khoa tâm lý sau này xác nhận là hiện tượng “névrose”, một chứng rối loạn thần kinh nào đó, mà con người vẫn còn sáng suốt và rung cảm bén nhạy. Vẫn làm chủ được trí óc mình”. 

Khoảng 17, 18 tuổi, Hàn Mặc Tử suýt chết đuối ở biển Quy Nhơn. Sau khi thoát chết, ông trở nên hoảng loạn khác thường. Từ đó, ông bỏ luôn thói quen tắm biển, sợ nước, ít hoạt động, hình thể gầy nhỏ đi. Nhiều biểu hiện làm cho gia đình sợ rằng ông bị tâm thần, nhưng sau đó thấy ông bình thường, thậm chí còn tập làm thơ nên cũng quên đi nỗi lo lắng…(Theo nghiêng cứu mới nhất của Hàn Phương về nhà thơ Hàn Mạc Tử)

Thứ Hai, 13 tháng 6, 2011

Huyền thoại Ghềnh Ráng

Ghềnh Ráng, bãi tắm Hoàng Hậu
Nhà tôi ở khu vực Đống Đa, học tiểu học ở trường Đống Đa. Khu Bãi Trứng Ghềnh Ráng là khá xa đối với chúng tôi thời bấy giờ, nhưng thỉnh thoảng chúng tôi cũng đạp xe xuống Bãi Trứng chơi. Lúc bấy giờ Bãi Trứng chưa có cổng bảo vệ, không phải mua vé vào và có rất nhiều mít. Mộ Hàn Mạc Tử còn đơn côi nằm vắt bên đồi nhìn xuống Bãi Trứng, Gềnh Ráng.

Ở vùng phía Nam bãi biển Qui Nhơn có một bãi biển thơ mộng, sơn thủy hữu tình, bà con ở đây thường gọi là bãi tắm Hoàng Hậu. Không như nhiều bãi biển khác chỉ có cát vàng mịn màng trải dài vô tận, bãi biển ở đây, trên lớp cát lại là hàng ngàn tảng đá to bằng thân người, có tảng hình tròn, nhiều tảng hình bầu dục, nhẵn, màu trắng hoặc xám có vân trứng cút nằm san sát bên nhau, tạo nên một vẻ đẹp kỳ diệu.

Vùng biển này trở thành một kỳ quan được du khách khắp nơi say mê chiêm ngưỡng. Nhưng có lẽ chưa ai biết được nơi đây còn có điều kỳ diệu hơn ẩn bên trong đó là một mối tình tuyệt vời nhưng cũng là bài ca ly biệt đầy khổ đau của một người thiếu nữ đã nhỏ máu tim mình làm đẹp cho đời...

Chuyện kể rằng, đã lâu lắm rồi, thuở ấy nơi này có một dòng sông nhỏ, nước sông bình lặng trong vắt chảy giữa đôi bờ cây cỏ tươi xanh.

Ở làng kia có một đôi trai tài gái sắc yêu nhau tha thiết. Vì những qui định khắc nghiệt của dòng tộc nên họ chẳng được cùng nhau sánh duyên. Nhưng tình yêu đã giúp họ vượt qua mọi trở lực ngang trái. Cô gái dịu hiền, thông minh, xinh đẹp đã từ bỏ cuộc sống nhung lụa giàu sang cùng chàng trai mồ côi tuấn tú trốn đến dòng sông hẻo lánh này cùng sinh sống nên vợ nên chồng. Họ sống yên ấm bên nhau dưới mái nhà lợp bằng lá dừa. Chàng trai ngày ngày đánh bắt cá tôm trên dòng sông, cô gái đảm đang chuyên cần việc ruộng vườn, đồng áng.

Một lần chàng trai đánh được một con cá to kỳ lạ. Họ mừng vui vì sẽ có đủ thức ăn khô dành cho mùa mưa bão. Khi mổ cá ra, họ còn vui sướng hơn vì đã nhặt được trong bụng cá một viên hồng ngọc sáng long lanh.

Được viên hồng ngọc quý, chàng trai lặng lẽ tự mài chuốt thành một chiếc nhẫn xinh đẹp, trên mặt nhẫn khắc hình đôi trái tim nhỏ, đỏ rực như một dòng máu đang chảy dạt dào.

Một đêm rằm trung thu, trăng thanh gió mát, họ cùng nhau dạo chơi bên dòng sông. Trên bãi cát, giữa trời đất bao la họ nằm bên nhau vui đùa, tỉ tê trò chuyện. Chàng trai lấy chiếc nhẫn quý, âu yếm trao vào tay người yêu và nói những lời có cánh:

- Ta trao cho em chiếc nhẫn này để em giữ làm tin. Đây là tấm lòng của ta công lao của ta, là tình yêu, là trái tim ta luôn ở bên em. Khi em thức nó sẽ thức cùng em. Khi em ngủ nó cũng ngủ bên em. Như ta mãi mãi bên nàng...

Cô gái lặng đi vì xúc động. Rồi họ ôm hôn nhau - Hôn êm đềm, tha thiết.

Bầu trời bát ngát, ánh trăng ngời ngời, dòng sông hiền hòa lấp lánh, bãi cát mênh mông, huyền ảo đã chứng giám cho mối tình nồng thắm của họ.

Khi yêu, ai lại không nghĩ đến hạnh phúc trọn đời và không gì có thể làm nhạt phai...

Một buổi sáng tinh mơ, sau cơn mưa, bình minh ló dạng. Phương Đông mặt trời từ từ nhô lên đỏ thắm như một viên hồng ngọc khổng lồ, một chiếc cầu vòng rực rỡ vắt ngang bầu trời, hào quang tỏa muôn hồng nghìn tía. Trước vẻ kỳ vĩ của tự nhiên, mọi người đều bàng hoàng. Chàng trai ngắm chiếc cầu vòng với niềm say mê chan chứa. Một ướt muốn kỳ lạ bỗng bừng dậy nôn nao trong lòng chàng khiến chàng đứng ngồi chẳng yên. Sự khao khát về một nơi sung sướng giàu sang kéo chàng đi dần vào cõi mộng mơ. Những ngày sau chàng đi đánh cá sớm hơn, và về nhà cũng muộn hơn như để được tự do tìm đến với vẻ đẹp cuốn hút của chiếc cầu vồng. Cô gái đã có lúc khóc thầm khi cảm nhận vẻ đột nhiên xa lạ lạnh lùng của người yêu. Những lời dịu ngọt âu yếm đã bay khỏi môi chàng tự lúc nào.

Một hôm chàng nói với nàng:

- Sống như thế này khổ quá. Tôi phải đi tìm cho chúng ta một cuộc sống sung sướng hơn. Nơi có chiếc cầu vồng hào quang kỳ lạ đó sẽ có chỗ cho ngôi nhà rực rỡ của chúng ta.

- Chàng ơi - nàng tha thiết van nài – Chàng đừng đi đâu xa nữa. Cuộc sống của chúng ta thế này là hạnh phúc lắm rồi. Em nào dám mơ ước gì hơn. Chàng đi sẽ gặp biết bao nhiêu gian truân và... cám dỗ, liệu chàng có trở về cùng em...

- Nàng đừng cản bước ta

Chàng nói dứt khoát và thâm tâm lại nghĩ đến nơi có chiếc cầu vồng rực rỡ. Ôi, chiếc cầu vồng ảo vọng của chí tang bồng đã kéo chàng trai vượt khỏi vòng tay yêu thương của người con gái dịu hiền. Sự cám dỗ như phép phù thủy nào đã làn ngu muội trí nhớ, khiến chàng trai đánh mất lời nguyện ước. Chàng đã ra đi không hẹn ngày trở lại, và chàng đã không bao giờ còn về được với kho báu vô giá - niềm hạnh phúc của đôi lứa đã kiếm tìm.

Ngày qua tháng lại, tin nhạn biệt tăm. Khổ đau thương nhớ đã làm tàn phai nhan sắc người con gái. Giọt máu của chàng trong nàng ngày một lớn lên, quẫy đạp nhắc nhở sự hiện diện của mối tình nồng thắm, khiến nàng càng thêm xót xa đau đớn. Nàng thẫn thờ lang thang tìm kiếm chàng dọc theo dòng sông. Nàng khóc than về nỗi bất hạnh của mình. Những dòng nước mắt mặn chát, nóng hổi của nàng tuôn xuống như mưa làm cho nước sông dâng tràn thành một vùng nước mặn mênh mông không bờ không bến. Những giọt nước mắt nhớ thương biến thành những con sóng dào dạt ngày đêm. Chúng từ bờ cát bơi ra mãi xa khơi kiếm tìm rồi lại trở về, thất vọng chìm sâu vào cồn cát cứ dâng đầy.

Nước mắt của người con gái đã cạn khô. Nàng như người vô thức. Một lần con dao thái rau đã cứa vào ngón tay đeo nhẫn của nàng. Qua dòng máu chảy ròng ròng, nàng bỗng nghe từ đâu đó có tiếng người yêu kêu khóc thảm thiết. Nàng thảng thốt bật dậy chạy đi khắp nơi tìm kiếm. Nàng đi đến đâu máu nhỏ đến đấy. Mỗi giọt máu rơi xuống cát liền đông cứng lại thành một hạt cát đỏ tươi. Phút chốc bãi cát trắng biến thành một vùng cát đỏ.

Khi trái tim cô gái nhỏ giọt máu cuối cùng thì nàng cũng đã gục xuống và thân thể liền tan hòa vào vùng cát đỏ. Những hạt cát đỏ ấy tự nhiên to lên như hòn sỏi rồi lớn dần thành từng tảng đá đỏ như những giọt máu khổng lồ. Khi gặp ánh mặt trời cả bãi đá bừng lên một nguồn ánh sáng hoàng hôn lộng lẫy mà mấy thiên niên kỷ qua chưa từng có. Chính vì vậy mà cái tên Gềnh Ráng trời cho trở thành cái địa danh cho người trước truyền lại cho người sau làm cánh cửa huyền bí cho một chuyện tình có một không hai trên thế gian này.

Biết bao mùa xuân đi qua, những nụ hoa mai nở vàng rồi rơi rụng lặn vào đất đai như bao kỷ niệm xóa nhòa theo thời gian. Vùng nước mặn bao la ở đây đã được gọi là biển cả. Muôn đợt sóng biển cuồn cuộn nỗi nhớ thương ngày đêm khôn nguôn dào dạt phủ tràn lên cùng đá đỏ, mài mòn những khía cạnh sần sùi của đá. Những giọt nước biển mặn mòi mang sắc đá đỏ khi cuốn ra khơi xa như kiếm tìm, nhưng rồi ngưng lại, kết tụ như rừng cây không lá không hoa, song vẫn không phai nhạt màu sắt son và đã chìm sâu vào lòng biển nơi nó phiêu dạt, mà người đời sau trìu mến gọi là san hô.

Qua nhiều thế kỷ, màu đỏ của đá bị sóng biển cuốn hết chỉ trơ lại sắc trắng và xám. Nhưng những tảng đá ấy vẫn giữ nguyên hình dạng ban đầu của giọt máu có tảng hình tròn, có tảng hình bầu dục, hình trái tim. Chúng giống như những quả trứng khổng lồ nằm xếp lên nhau nên người ta gọi là bãi Trứng.

Mãi về sau, có một vị hoàng đế trẻ trong một lần du ngoạn đã đến vùng này, tâm hồn lưu luyến trước cảnh trời biển mênh mông thẳm xanh vời vợi. Khi bình minh lên mặt trời tỏa rạng, nhìn thế núi trông xa như một tòa lâu đài cổ kính uy nghi, xung quanh cây cối xanh tươi như một vườn ngự uyển lộng lẫy, kín đáo. Vì vậy nhà vua đã chọn nơi đây làm bãi tắm cho người vợ yêu quý của mình.

Từ dạo ấy, bãi Trứng còn có thêm tên là bãi tắm Hoàng Hậu. Và ngày nay biết bao lứa đôi là "Hoàng đế, Hoàng hậu" đã đến đây ngoạn cảnh, tắm biển và còn đắm mình trong chuyện tình xa xưa mà lắm bạn chưa hay biết bởi còn vô tình. (Theo Xuân Mai, Báo Bình Định)

Thứ Ba, 7 tháng 6, 2011

Doanh nhân BĐ: Nguyễn Thanh Nghĩa

Ông Nguyễn Thanh Nghĩa
 Thành danh trên đất khách
Tình cờ mở báo Bình Dương ra đọc, đập vào mắt tôi bên danh sách trúng cử đại biểu HĐND tỉnh Bình Dương nhiệm kỳ 2011-2016 là cái tên Nguyễn Thanh Nghĩa, quê quán Cát Tài, Phù Cát, Bình Định. Cũng theo nội dung đăng tải trên báo, anh Nghĩa là Tổng giám đốc kiêm Chủ tịch hội đồng quản trị Công ty cổ phần Đại Thiên Lộc tại thành phố mới Bình Dương.
Qua nhiều mối quan hệ thân cận, tôi tìm được số di động của người trợ lý cho anh Nghĩa. Điện thoại xin gặp thì lập tức nhận câu trả lời: “Để lúc khác nhé. Vì đang cao điểm sản xuất nên anh Nghĩa bận lắm”. Tôi đành vận dụng “chiêu” cuối cùng: “Tôi cũng là người Bình Định, muốn gặp anh Nghĩa để trao đổi vài thông tin”. Vài phút sau, đã có số lạ gọi tôi: “Em là người Bình Định à? Thế thì mời vào công ty uống nước, nói chuyện cho vui. Nhưng không ngồi lâu được, vì mình bận nhiều việc quá!”.

Anh Nguyễn Thanh Nghĩa gặt hái nhiều danh hiệu lớn cho công ty CP Đại Thiên Lộc. trong ảnh: Nâng cao cúp Doanh nhân xuất sắc đất Việt 2010.

* Tôi là người Bình Định
Anh Nguyễn Thanh Nghĩa sinh năm 1963, tại Cát Tài, Phù Cát. Là con thứ 4 trong một gia đình nghèo có 5 anh em, cha mất sớm nên Nghĩa không có nhiều điều kiện như bạn bè. Nhờ tư chất thông minh nên anh được mẹ cho theo học đến bậc đại học. Năm 1987, anh tốt nghiệp Đại học Kinh tế tài chính kế toán TP HCM, ra công tác tại Công ty xuất nhập khẩu thủy sản (Seaprodex) Sài Gòn, mở công ty riêng rồi định cư luôn tại TP HCM…
Gần 29 năm học tập rồi lập nghiệp, thành đạt trên đất khách, vậy mà anh vẫn còn giữ cái chất giọng xứ “Nẫu” đặc sệt.
- Làm sao mà thay đổi được. Quê hương mình nghèo khó với những ruộng đồng cằn khô, nắng rát da, mưa nhũn đất lại luôn là động lực để tôi vượt qua khó khăn, thử thách trong cuộc sống. Dù ở đâu, tôi vẫn luôn tự hào mình là người Bình Định.
Yêu quê hương như thế sao anh không về quê đầu tư làm ăn để giúp quê hương phát triển?
- Thì cũng rất muốn đấy nhưng tiếc là giờ mình chưa đủ lực. Ngoài ấy mình còn một người em trai, cũng định mở thêm chi nhánh của công ty nhưng thời cơ chưa đến. Còn giúp đỡ cho quê hương thì những năm qua, mình cũng đã gửi hàng trăm triệu đồng về xây dựng nghĩa trang Cát Tài, rồi xây nhà tình nghĩa… Thực ra đấy chỉ là chút lòng thành tri ân quê cha đất tổ, còn việc giúp quê hương phát triển thì mình vẫn chưa làm được gì.


Bản lĩnh và sự táo bạo trong suy nghĩ đã giúp anh Nguyễn Thanh Nghĩa vững bước trên đường tạo lập Công ty CP Đại Thiên Lộ. trong ảnh: Dây chuyền sản xuất tôn của công ty.

* Đam mê làm giàu
Anh đã từng từ bỏ chức Trưởng phòng Tài chính – Tín dụng của Công ty Seaprodex Sài Gòn, vì sao vậy?
- Năm 1987, sau khi tốt nghiệp đại học, tôi đã phải gõ cửa nhiều công ty để xin việc. May mắn là tôi đã được nhận vào Công ty Seaprodex Sài Gòn. Làm việc ở đây đến hết năm 1999, thì tôi xin nghỉ khi đang giữ chức vụ Trưởng phòng Tài chính - Tín dụng… Quyết định của tôi gây sốc đối với gia đình và bạn bè. Bởi đó là một vị trí tốt trong một công ty lớn của nhà nước. Nhưng tôi chọn con đường mở công ty tư nhân, đơn giản vì người ta có thể làm giàu bằng nhiều con đường. Sau rất nhiều thủ tục, đến năm 2001, tôi mới được nghỉ hẳn công việc ở Seaprodex để ra hùn hạp với một người bạn tại Bình Dương, thành lập Công ty thép Thiên Lộc, vốn điều lệ ban đầu là 6 tỉ đồng, phần tôi 3 tỉ đồng. Để có được số vốn ấy, tôi đã phải thế chấp toàn bộ tài sản trong nhà, vay mượn bạn bè, anh em. May mắn là chỉ ít lâu sau khi công ty thành lập, Nhà nước mở cửa, cho phép tư nhân tham gia xuất nhập khẩu. Đây là điều kiện quan trọng để Công ty thép Thiên Lộc lớn mạnh.
Được biết cũng có thời gian Công ty thép Thiên Lộc suýt đổ bể, anh đã làm gì để lèo lái Công ty đứng vững trước sóng gió?
Công ty CP Đại Thiên Lộc đạt doanh thu nội địa năm 2010 là 1.305 tỉ đồng. Trong đó, tổng lượng sản phẩm tiêu thụ nội địa là 82.226 tấn. Kim ngạch xuất khẩu năm 2010 đạt 26 triệu USD, tăng 101% so với năm 2009. Công ty xuất khẩu 5 nhóm mặt hàng gồm: tôn mạ kẽm, thép cán nóng, cán nguội, tôn mạ màu, tôn lạnh. Nhưng sản phẩm xuất khẩu chủ yếu là tôn mạ kẽm (chiếm hơn 45% tổng kim ngạch). Tổng lượng xuất khẩu đạt 30,217 tấn sản phẩm. Thị trường xuất khẩu truyền thống vẫn là các nước ASEAN, chiếm hơn 64,75% doanh thu. Trong năm 2010, công ty mở rộng xuất khẩu thêm tại một số nước ở châu Á, châu Phi và Nam Mỹ.
Năm 2010, công ty đóng góp 1.073 triệu đồng cho các hoạt động xã hội, từ thiện như: ủng hộ kinh phí xây 7 căn nhà tình nghĩa (245 triệu đồng); cứu trợ đồng bào bị bão lũ (55 triệu đồng); tài trợ các chương trình “Hoa bốn mùa” Đài truyền hình Bình Dương (300 triệu đồng); tài trợ chương trình “Mãi mãi niềm tin theo Đảng” (50 triệu đồng); tài trợ chương trình “Thắp lên niềm hy vọng” vì nạn nhân chất độc da cam (100 triệu đồng); thành lập Quỹ học bổng “Đại Thiên Lộc - Thắp sáng ước mơ sinh viên Bình Dương”, do Hội sinh viên VN tỉnh Bình Dương và Cty CP Đại Thiên Lộc tổ chức, hàng năm tài trợ ít nhất 100 triệu đồng.
- Đó là năm 2005, thời điểm ngành thép bị khủng hoảng, hàng nhập về không bán được khiến các công ty thép điêu đứng. Nội bộ công ty xào xáo; tình trạng kẻ làm, người phá liên tục xảy ra. Trong vòng 2 tháng, chảo nung thép của công ty bể 2 lần. Trước tình hình ấy, người đứng chung chân với tôi lung lay niềm tin, dẫn đến sự đổ bể trong quan hệ làm ăn và cương quyết rút lui. Không còn cách nào khác để giữ chén cơm cho anh em công nhân mà mình gắn bó, tôi đã tuyên bố nếu bạn mua lại công ty, sẽ chỉ phải trả 10,5 tỉ đồng nhưng nếu tôi mua sẽ chịu chi 14 tỉ đồng. Sở dĩ tôi nói cứng như vậy là vì tôi am hiểu về ngành thép cùng với những chuyển biến về văn bản, chính sách của nhà nước. Tôi biết ngành thép sẽ đứng dậy mạnh mẽ…
Và quả như vậy, đến nay, Công ty cổ phần Đại Thiên Lộc là một trong những công ty hàng đầu về ngành thép của Việt Nam. Công ty có vốn điều lệ 487 tỉ đồng, doanh thu năm 2010 lên đến 1.808 tỉ đồng (trong đó xuất khẩu 26 triệu USD). Lợi nhuận sau thuế của công ty năm 2010 là 187 tỉ đồng; đóng góp phúc lợi xã hội 1,087 tỉ đồng. Với những thành tích đã đạt được trong sản xuất và kinh doanh, Công ty cổ phần Đại Thiên Lộc vinh dự đón nhận Huân chương lao động hạng Ba (Chủ tịch nước đã ký ngày 17.3.2011); thương hiệu nổi tiếng quốc gia năm 2010; doanh nhân xuất sắc đất Việt năm 2010; top 100 Sao vàng Đất Việt năm 2010; top 500 Công ty lớn nhất Việt Nam 2010; bằng khen của UBND tỉnh Bình Dương vì đã có thành tích xuất sắc trong hoạt động sản xuất kinh doanh, góp phần phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Bình Dương năm 2010…
Một thành tích quá ấn tượng đối với một công ty cổ phần được xây dựng, đi lên bằng đôi bàn tay của một chàng trai nghèo người Bình Định.
* Cầu nối giữa nhà nước với công nhân
Động lực nào thúc đẩy anh ra ứng cử đại biểu HĐND tỉnh Bình Dương khóa VIII, nhiệm kỳ 2011-2016?
- Tôi xuất thân trong một gia đình có cha là liệt sĩ và vinh dự đứng vào hàng ngũ của Đảng năm 1995. Trong suốt quá trình kinh doanh từ khi thành lập Công ty cổ phần tôn Đại Thiên Lộc, tôi đã xây dựng Chi bộ Đảng trong công ty và phấn đấu luôn đạt danh hiệu trong sạch vững mạnh. Công tác xây dựng cơ sở Đoàn ở công ty tôi cũng phát triển rất mạnh. Chính vì thế, dù là một công ty cổ phần nhưng tôn Đại Thiên Lộc luôn giữ vững danh hiệu lá cờ đầu trong phong trào thi đua của Đảng ủy khối. Đó là cơ sở để tôi được giới thiệu ứng cử đại diện cho khối doanh nghiệp của tỉnh. Bản thân tôi trước đây cứ nghĩ lo kiếm tiền cải thiện đời sống cho anh em công nhân. Nhưng bây giờ, tôi nghĩ khác, tôi ứng cử vào HĐND để làm cầu nối giữa họ với nhà nước. Làm sao để bảo đảm cho doanh nghiệp và công nhân được hưởng quyền lợi mà nhà nước đã quy định và cũng mong muốn họ thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của mình. Lý Khánh Vinh thực hiện - Báo Bình Định



CÔNG TY CỔ PHẦN ĐẠI THIÊN LỘC
Địa chỉ: Lô 2, đường 22, KCN Sóng Thần 2, Dĩ An, Bình Dương.
Tel: 0650.3732981  
 Fax: 0650.3732980
 www.daithienloc.com.vn 

 

Thứ Bảy, 21 tháng 5, 2011

GẶP MỘT HUYỀN THOẠI ĐẤT VÕ - VÕ SƯ PHAN THỌ

Bình Định được định danh là miền đất Võ. Tên gọi ấy không phải ngẫu nhiên mà thành, mà được khởi nguồn từ truyền thống thẳm sâu của miền đất này. Ở Bình Định, ẩn sau lũy tre làng bình dị như bao làng quê khác, là những làng võ với những võ sư một thời danh chấn. Một trong những huyền thoại còn lại ở đất Võ là võ sư Phan Thọ.

Võ sư Phan Thọ múa kiếm.

* Bán bò... học võ

Cả cuộc đời, võ sư Phan Thọ luôn đau đáu với tâm niệm tầm sư đặng trau dồi vốn võ học. Nhẩm tính lại, ông đã dành tới 18 năm để học tới 7 ông thầy.

* Thưa ông, bây giờ nhiều võ sĩ trẻ, chỉ cần hai, ba năm đã thi đấu và giành huy chương. Vậy mà ông cần những 18 năm?

- Có lẽ, cái mệnh của tôi là phải cần mẫn mà đi lên. Con đường học võ cũng vậy. Tôi bắt đầu học từ năm 17 tuổi. Đầu tiên là học ông Ký tại Phú Phong. Học được một năm, phải nghỉ vì ông thầy mắc tập quấn đài. Vậy là tôi sang An Vinh học với võ sư Cai Bảy, học đúng 5 năm, đã bắt đầu theo thầy đi đánh đài. Sau đó, chuyển sang học với cụ Tàu Sáu ở làng võ An Thái. Được một năm, thầy qua đời… Cứ vậy, lần lần, tôi học hết với những ông thầy giỏi trong vùng và thu lượm đủ “thập bát ban binh khí”. Cậu cứ tính thử xem, 18 binh khí gồm: quyền, roi, siêu, kiếm, đao, thương, kích, giản, phủ, chùy, xà mâu, côn, xích, thước, ba chỉa, chấn thiên cung và độc tiên (khăn xéo). Mỗi môn quấn cho chuẩn, phải học ít nhất ba thảo; 18 môn là 54 thảo. Bên cạnh đó, phải học thêm 10 bài đấu luyện. Nếu sử dụng 18 môn binh khí một cách nhuần nhuyễn, lại thật rành các chiêu thức của đấu luyện, thì hiệu quả sẽ cao biết bao nhiêu, trăm người có thể địch vạn người. Đó là điều giải thích vì sao những đội quân của Quang Trung hoàng đế luôn bách chiến bách thắng. Mà 18 môn ấy, có phải học một thầy là thành đâu. Phải biết rút tỉa từ từ. Chẳng như, học ông Lê Thái và Lê Thành Phiên, hai học trò của võ sư Hồ Ngạnh rất giỏi về roi, thước, xích; học võ sư Tàu Sáu kiếm, đao; học làng võ An Vinh quyền, bồ cào, lăng khiên… Tôi nghiệm ra rằng, trong võ có thế và có thần, thế là những mánh khóe nhà nghề, thần là từ sự tập luyện. Mọi bí quyết là từ đó mà ra. Cho nên, phải tập cho giỏi, cho tinh. Còn như lớp trẻ bây giờ, mới học được mấy môn, học được ba bài thảo đãõ đi thi, thi đậu có huy chương rồi thì lo đi dạy ngõ hầu kiếm miếng cơm nuôi gia đình, ai mà đủ nghị lực và tâm huyết để toàn tâm toàn ý theo thầy học cho đến đầu đến đũa như hồi trước. Mình biết và thông cảm với tụi trẻ, nhưng cũng không khỏi những âu lo về sự mai một vốn võ học.

Khúc sông Kôn nối hai làng võ An Vinh và An Thái, nơi từng in bóng võ sư Trương Văn Hiến - người thầy của anh em Tây Sơn - trong những ngày đầu tiên từ đàng Ngoài vào đàng Trong lập nghiệp, cũng lại là nơi gắn với chặng đường tầm sư học võ của võ sư Phan Thọ. Ngày nhỏ, ông đã bao lần vượt sông để sang làng võ An Vinh, rồi sau này, lại trở ngược lại bên An Thái học võ.

* Nghe đâu, ông từng phải bán bò để đi học võ. Vậy ngày ấy, khi có ý định bán bò, ông có phải hỏi ý kiến của… vợ?

- Tất nhiên chứ chú. Hồi đó, tôi đã 32 tuổi, nhà có hai con bò cày, mà mình muốn đi học võ nhưng lại không tiền. Vậy là tôi hỏi vợ: Nhà có hai con bò, con nào xấu xấu thì bà cho tôi một con để bán lấy tiền học võ? Vợ tôi đồng ý ngay và nói: Ông học võ, có bán hết cả hai con cũng được. Mà tôi nghiệm ra rồi, những người học võ muốn giỏi đều phải nhờ một tay vợ cả đấy.

* Việc tập luyện ngày đó hẳn không chỉ mất nhiều thời gian mà còn rất công phu?

- Công phu thì khỏi nói. Chẳng như, đầu tiên là luyện với tàu chuối. Tàu chuối rọc lá, ôm cả ôm, hai người hai bên cứ phóng tới. Mình bên này phải dùng tay để hớt. Thành thục rồi thì chuyển sang dùng tre. Những cây tre già, chẻ ra làm 6 miếng, vớt hai đầu, cũng lại phóng và hớt. Xong lại đi tìm đá vừa tay về luyện cho cứng tay… Công phu chứ. Tính ra, mỗi môn muốn học cho thông, cần tới cả ba đến bốn năm lận.

Lão võ sư Phan Thọ với chiếc răng nanh của con heo rừng do ông quật chết.

* Quật chết lợn rừng

Trong câu chuyện truyền tụng của người dân dất Võ về võ sư Phan Thọ, không thể thiếu câu chuyện đấu lợn rừng của ông. Nay, lão võ sư vẫn cất giữ hai chiếc răng nanh lợn rừng để làm kỷ niệm cho một lần quyết đấu. Lão võ sư nhớ lại:

- Đó là năm 1964, hồi đó, thôn Thủ Thiện Hạ có con lợn rừng ra ăn mía. Con thú răng nanh dài hơn gang tay, lừng lững như con cọp, mình nó quật ba thanh niên bị thương, phải chở đi nhà thương. Người dân trong làng nghe tôi có võ, mới chạy vào kêu ra. Tôi ra tới nơi, kêu thanh niên hai thôn tập hợp cây gậy lại, đứng xung quanh la hét ầm ầm làm nó rối trí, rồi mình tôi nhảy vào quần thảo. Con lợn rừng hai mắt đỏ ngầu, da đen trũi, cứng như thép. May mà tôi có sức, lại nhanh, nên con lợn rừng hộc vô cắn đến đâu là tôi nhảy tránh, rồi dùng cây đánh đến đó. Cây này gãy thì người đứng ngoài lại quăng cây khác vô. Sau ba tiếng đồng hồ quần thảo, cuối cùng, khi con thú đã mệt hung, tôi dùng luôn cây vồ đánh giữa tam tinh, hạ gục.

* Quật chết lợn rừng, nhưng đã có lần võ sư thượng đài bị thua?

- Đó là trận thua duy nhất trong đời võ học của tôi và cũng là trong lần thượng đài đầu tiên. Lúc đó, tôi 34 tuổi, thượng đài nhưng thiếu kinh nghiệm nên đã thua võ sư Bùi Xuân Cảnh. Tức khí, tui lại tiếp tục đi học thêm… Nay ngẫm lại, chính nhờ trận thua đầu tiên đó, tui bớt đi tính hiếu thắng tuổi trẻ, nên sau này, vừa học vừa thượng đài mà không thua trận nào.

Năm 1998, có hai nam võ sĩ 4 đẳng Taekwondo từ Hàn Quốc tìm đến gặp ông so tài. Cả hai đều lần lượt bị ông hạ đo ván, bái ông làm thầy và xin theo học võ.

* Ngày đó, võ sư đã 73 tuổi, vậy võ sư dùng thế nào để thắng được hai võ sĩ trẻ?

- Họ ỷ sức, đá rất nhanh và mạnh. Họ đá một cú làm nứt cả cột nhà trên của tôi, dấu vẫn còn đấy. Cho nên mình mà cứ ào vô, trúng là gãy tay liền. Cho nên, tui phải lấy cái nhanh nhẹn, dùng chước chun vô, rồi đánh ngay hậu môn, làm họ té rướm cả máu đầu. Thua rồi họ chất vấn tôi: “Ở Quy Nhơn, toàn võ sĩ trẻ không mà không đánh lại tụi tôi. Còn ông già mà đánh lại được là sao? Tôi trả lời: Tui già, ông quấn tui thì tui quấn lại ông là chuyện thường. Còn dưới Quy Nhơn, mấy em còn trẻ, họ sợ đánh các ông chết không về nước được, nên không đánh chứ đâu phải họ dở”.

Hình ảnh võ sư Phan Thọ trên trang bìa tạp chí “Timeout”.

* Đọng bóng chiều

Lão võ sư Phan Thọ là người có đệ tử ngoại tỉnh tìm đến theo học rất nhiều. Tính đến nay, ông đã truyền dạy cho hàng trăm đệ tử, đến từ nhiều địa phương trong nước như Lạng Sơn, Phú Thọ, Hải Hưng, Hà Nội, Hải Phòng, Nha Trang, TP. Hồ Chí Minh, Kiên Giang… Người học ít cũng vài ba tháng, còn có người học đến vài ba năm. Nhiều học trò của võ sư Phan Thọ giờ đã trở thành huấn luyện viên, tiếp nối thầy truyền bá võ Bình Định đi khắp mọi miền đất nước.

“Đối với các võ sinh, dù tôi yêu thương như con cháu trong nhà, nhưng việc truyền dạy võ thuật cũng phải tuân theo quy tắc. Đối với những người chỉ học một thời gian ngắn, mình không có nhiều điều kiện để nhận xét, hoặc những học trò đã phát hiện có vấn đề về đạo đức, tôi thường dạy những bài võ mang tính biểu diễn là chính, để đề phòng họ sử dụng vào mục đích xấu” - lão võ sư tâm sự.

Nhưng hai năm nay, võ đường Phan Thọ gần như khép cửa. Ngay khoảnh sân trước nhà vẫn dùng làm nơi tập võ cho võ sinh, nay cỏ đã mọc đầy. Lão võ sư nay thôi không mở lò dạy võ, thay vào đó, trong lần ghé thăm ông, tôi gặp những người đến xin thuốc võ. “Ngày đó, tôi chuyên làm chân chạy đi mua thuốc võ cho thầy, lại được chỉ dạy thêm, nên cũng biết ít nhiều về thuốc võ. Giờ chân tay yếu hung rồi, múa chút đã vã mồ hôi, nên tôi chuyển sang làm thuốc. Cũng là võ cả đấy” - Nói vậy, nhưng đôi mắt lão võ sư thoáng nét ưu tư. Tôi hiểu, đó là nỗi ưu tư trước thực trạng ngày càng ít những người đủ niềm say mê và kiên trì đi theo nghiệp võ. Ngay các con ông, cũng chỉ kịp học vài môn binh khí, ít chiêu thức, rồi kẻ nghề này, người nghiệp kia, lao vào đời kiếm sống…(Theo Lê Viết Thọ - Báo Bình Định)