Hiển thị các bài đăng có nhãn bình định. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn bình định. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 21 tháng 7, 2011

DOANH NHÂN BÌNH ĐỊNH - TÀO VĂN NGHỆ

Ông Tào Văn Nghệ, người đứng giữa, hàng đầu.

Tôi biết Ông khi tôi còn làm HDV du lịch. Nghe Ông nói giọng Miền Trung nhưng đã lai Miền Nam rất nhiều, rất khó biết là miền nào. Tôi rất ngưỡng mộ Ông vì là người Việt Nam đầu tiên làm GD (General Director - Tổng Giám Đốc Điều Hành) khách sạn 5 sao - khách sạn Majestic, thành phố Hồ Chí Minh. Không ngờ, Ông là người con miền đất võ Tây Sơn - Bình Định.

Ông sinh năm 1955, quê quán ở xã Tây Vinh, huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định. Hiện ông là Giám đốc Khách sạn Rex, ông chịu trách nhiệm chỉ đạo xây dựng kế hoạch kinh doanh theo chỉ tiêu lợi nhuận và tỷ suất lợi nhuận trên vốn để phát huy hiệu quả sử dụng vốn lưu động, vốn cố định. Chịu trách nhiệm về kết quả thực hiện kinh doanh hàng năm theo những nhiệm vụ do Tổng Công ty Du lịch Sài Gòn giao. Xây dựng và thực hiện các định mức đơn giá kinh doanh, tiêu chuẩn sản phẩm phù hợp với qui định hiện hành. Báo cáo định kỳ và đột xuất về tình hình hoạt động của Khách sạn theo qui định của Tổng Công ty.

Từ năm 2005 đến năm 2009 ông được phân công nhiệm vụ Giám đốc Khách sạn Majestic, ông đã chỉ đạo và điều hành hoạt động của Khách sạn tăng trưởng đều qua các năm về doanh thu, lợi nhuận và số nộp ngân sách. Tháng 1 năm 2010 ông được phân công giữ nhiệm vụ Giám đốc Khách sạn Rex, trong quá trình đều hành ông đã hoàn thành xuất sắc chỉ tiêu, nhiệm vụ cả 02 khách sạn.

Ông đặt những mục tiêu và lấy sự hài lòng của khách hàng làm thước đo của chất lượng sản phẩm và dịch vụ. Liên tục các năm liền, ông chú trọng đầu tư mới các phương tiện, nâng cấp cơ sở vật chất để nâng cao chất lượng hoạt động khách sạn Majestic (tổng kinh phí sử dụng cho công tác nâng cấp cơ sở vật chất, mua sắm phương tiện, trang thiết bị là 6,36 tỷ đồng- năm 2008, năm 2009 là 7,257 tỷ đồng. Trong đó khách sạn chú trọng vào nâng cấp phòng ngủ, sản phẩm chủ lực của khách sạn, với tính năng ưu việt hơn, kiểu dáng hiện đại và tinh tế hơn do đó khách sạn đầu tư để đi cùng nhịp điệu với sự phát triển của ngành. Các máy móc, trang thiết bị dùng trong vận hành khách sạn như các đồ dùng chuyên dụng, đúng chuẩn quốc tế, hệ thống âm thanh, ánh sáng, các xe đời mới đưa đón khách, đều được chú ý đầu tư và tạo nên một hình ảnh mới hoàn toàn, đồng bộ trong sản phẩm, dịch vụ khách sạn cung cấp. Ông chỉ đạo xây dựng hệ thống quản lý chặt chẽ, hiệu quả và nhất quán có Hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn ISO 9001:2000” do TUV Asia Pacific của Úc và New Zealand cấp năm 2001. Hệ thống này là chuẩn mực cho các hoạt động của khách sạn. Nhận thức được tính quan trọng của hệ thống, ông cho cập nhật tổng thể, rà soát mọi qui trình, điều chỉnh những qui trình vận hành chuẩn của từng công việc nhỏ nhất và nhờ tổ chức TUV Asia Pacific tái kiểm định và đánh giá cấp chứng nhận hệ thống đạt chuẩn và hiểu quả mới vào ngày 21/01/2008.

Ông đầu tư xây dựng đội ngũ kỹ sư giỏi công nghệ thông tin, áp dụng công nghệ thông tin vào việc quản lý, nối mạng máy tính trong toàn khách sạn. Đầu tư hệ thống năng lượng mặt trời, cung cấp nước nóng cho toàn khách sạn, giảm thiểu tối đa điện năng của khách sạn. Xanh hóa khách sạn bằng thảm cỏ xanh với diện tích gần 200m2 để tạo không khí trong lành, thoáng mát, tạo sự thoải mái cho khách trong thời gian lưu trú tại khách sạn, giảm bớt bụi thải. Giảm thiểu (reduce) tối đa điện, nước, văn phòng phẩm, trang bị những vật dụng có thể sử dụng lại (reuse). Ông chỉ đạo lắp đặt hệ thống ống khói bếp và ống khói máy phát điện trên nóc tòa nhà, lắp đặt máy thông gió và máy điều hòa không khí cho các phòng ngủ, các khu vực khác theo nhu cầu sử dụng, tạo ra môi trường làm việc thuận lợi và thông thoáng. Truyền thông với các nhà cung cấp, ưu tiên sử dụng hoá chất thân thiện với môi trường, hoá chất có bảng MSDS (Material Safety Data Sheet) hướng dẫn cho người sử dụng nhằm hạn chế nguy cơ ô nhiễm môi trường và đảm bảo an toàn khi sử dụng.

Ông tập trung đầu tư đào tạo nguồn nhân lực như: Thường xuyên mở các khóa học để nâng cao kỹ năng nghiệp vụ, chuyên môn cho nhân viên, tổ chức đào tạo tổng quát cho toàn thể CBCNV về chiến lược 3P, Customer Sevice, văn hoá Doanh Nghiệp. Đào tạo, huấn luyện nghiệp vụ tại chỗ cho nhân viên mới nắm bắt, hòa nhập công việc một cách nhanh nhất để đáp ứng được tiêu chuẩn phục vụ của khách sạn. Kết hợp việc đánh giá và nâng cao trình độ ngoại ngữ cho CB-CNV. Xây dựng chuẩn tiếng Anh (ký hợp đồng với TOEIC Việt Nam - Test of English for International Communication) cho các vị trí để khách sạn có kế hoạch đào tạo và tuyển dụng. Thực hiện chính sách thu hút nhân tài và chế độ đãi ngộ nhằm giữ chân người giỏi, tránh hiện tượng chảy máu chất xám, nâng cao thu nhập nhằm đánh giá và ghi nhận những nỗ lực, công sức mà người lao động cống hiến cho khách sạn. Trong năm 2008, 2009, ông cử 04 cán bộ tham dự lớp Quản lý khách sạn tại Singapore. Thực hiện theo Slogan: “Đổi mới dù chậm còn hơn đứng yên một chỗ”, ông kiên quyết thay đổi những cán bộ thuộc cấp quản lý chưa đáp ứng được yêu cầu của lãnh đạo khách sạn, cũng như không hoàn thành vai trò nhiệm vụ được giao.

Ông tạo điều kiện cho Công đoàn và Đoàn thanh niên tổ chức các hoạt động phong trào sôi nổi, khuyến khích cán bộ nhân viên tham gia tốt các chủ trương chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước và các phong trào chung của đơn vị. Ông quan tâm chăm sóc đời sống cán bộ công nhân viên: Thu nhập ngày càng được nâng cao (năm 2009 thu nhập bình quân 15 triệu tăng 50% so với năm 2008).

Ông còn tích cực tham gia làm công tác từ thiện, đóng góp xây dựng nhà tình nghĩa, chăm lo đời sống cho các em nhỏ mồ côi, có hoàn cảnh khó khăn.

Là một Doanh nhân tiêu biểu của thành phố Hồ Chí Minh từ năm 2006 đến năm 2009, ngày 10/10/2010 ông Tào Văn Nghệ được bình chọn là Doanh nhân Việt Nam tiêu biểu năm 2010 và vinh dự đón nhận cúp “Thánh Gióng” năm 2010.

Thứ Hai, 4 tháng 7, 2011

CHÀNG LÍA & TRUÔNG MÂY



Khi lớn lên tại Bình Định, tôi thường nghe câu hát:
Chiều chiều én liệng Truông Mây,
Cảm thương chú Lía bị vây trong thành.
Hay: cảm thương chàng Lía bị vây giữa dòng.
Và khi có đám tang, người ta di chuyển quan tài thường có một người, đứng trên quan tài gõ 2 cây gậy để điều khiển nhóm khiêng quan tài, tiếng địa phương gọi là Ông Chóp Kích??? Có người nói rằng, đây là biểu tượng của chàng Lía???
Truông Mây có tên nữa là Hóc Sâu, ở xã Ân Đức, huyện Hoài Ân. Truông chạy từ thôn Phú Nhuận ở phía Bắc đến thôn Vĩnh Hòa ở phía Nam, dài độ vài ba cây số. Hai bên mây mọc thành rừng, gai góc tua tủa. Cho nên gọi là Truông Mây.
Phía Đông, nhánh sông Kim Sơn chảy từ Nam ra Bắc, cuồn cuộn lục lìa. Phía Tây núi non trùng điệp, và hòn Núi Một tách ra đứng sừng sững bên truông.
Quang cảnh man dại. Người cứng bóng vía đến đâu, lúc gió chiều sương sớm quạnh quẽ hắt hiu, một mình đi ngang qua cũng cảm thấy rờn rợn. Lại thêm nhiều cọp. Cho nên hành khách ít dám qua lại, ngày nay cũng như ngày xưa, thời bình cũng như thời loạn.
Ít người qua lại, nhưng ở Bình Định không mấy ai không biết đến Truông Mây. Đó là nhờ Chàng Lía.

 Chàng Lía, hay Chú Lía, là ai?

Là một hiệp sĩ áo vải, sống vào thời chúa Nguyễn (không biết chắc chắn thời Chúa nào). Cha là người huyện Phù Ly, ở gần "miền Bích Khê". Mẹ là người Phú Lạc, huyện Tuy Viễn. Lía mồ côi cha. Mẹ đem về nuôi ở quê ngoại. Lớn lên cho ở chăn trâu cho một phú hộ trong miền.
Lía rất thương mẹ. Đến ở nhà người, nhưng tối nhất định trở về với mẹ. Và những lúc ra đồng, vào rừng, hễ bắt được con cá con chim đều để dành về dâng cho mẹ. Những khi không bắt được chim cá, thường bắt trộm gà vịt ở các thôn xóm xa, làm thịt mang về, nói dối rằng vịt nước, gà rừng. Nhiều lần, bà mẹ sinh nghi, không chịu ăn, gạn hỏi:
- Bắt trộm của ai?
Lía năn nỉ:
- Thấy mẹ khổ, Lía kiếm về nuôi mẹ. Mẹ ăn đi cho Lía vui lòng.
Bà mẹ nhất định không ăn thì Lía chui đầu vào lòng khóc đến lúc mẹ chịu ăn mới thôi. Bà mẹ giận thì Lía xin chừa. Nhưng rồi thỉnh thoảng vẫn đem về không chiếc đùi gà thì cũng nửa chân vịt.
Lía trông không có gì khác chúng bạn. Thân vóc cũng không có gì vạm vỡ, song sức mạnh thật phi thường. Mỗi lần gây sự đánh nhau, Lía chấp hàng vài ba chục trẻ em đồng lứa. Những khi hai trâu báng lộn, một mình Lía nắm một đuôi trâu, cả bọn mục đồng nắm một đuôi, kéo lui ra không cho báng. Lúc nào trâu của Lía cũng bị kéo lui xa hơn. Bởi thế bọn mục đồng đều khiếp sợ Lía. Lía bảo gì phải nghe theo nấy, không ai dám cãi, cũng không ai dám tỏ ý bất bình.
Một hôm cao hứng, Lía bảo bọn trẻ vật một trâu nghé của Lía chận, xẻ thịt thui ăn. Ăn xong sai đem tất cả da xương và lông lá vào rừng chôn dấu kỹ, chỉ để lại đuôi trâu. Lía lấy đuôi cắm xiên xiên xuống đất, rồi khuân một tảng đá to lớn đè lên trên, chừa ló mỏm chót với chòm lông đen. Đoạn chạy về nhà báo cùng chủ:
- Trâu đương ăn, bỗng rống lên một tiếng, rồi chui tuột xuống đất. Chúng tôi nắm đuôi kéo không lên.
Chủ nhà lật đật chạy ra xem. Thấy đuôi trâu, nắm kéo thử, nhưng mắc cứng nhổ không ra. Hỏi đoàn mục đồng, chúng đều nói theo Lía. Sau dò biết được sự thật, chủ nhà tức mình đuổi Lía ra khỏi nhà.
Lía về ở cùng với mẹ. Thấy mẹ làm lụng đầu tắt mặt tối, mà tháng ngày vẫn hụt trước thiếu sau, bèn lén đi bẻ bí trộm, đào khoai trộm… đem về giúp mẹ. Bà mẹ rầy rà mãi không được. Mong nhờ chữ nghĩa thay đổi tánh tình, bà cho Lía đi học. Lía học rất tối, lại hay gây gổ, đánh đá bạn bè. Thầy dạy mãi không được, phải đuổi ra khỏi trường.
Sợ mẹ không dám về nhà, Lía đi lang thang trong rừng. Chợt thấy một lão trượng đương đánh cùng cọp. Lão trượng râu tóc bạc phơ, nhưng diện mạo quắc thước, tay kiếm lanh như chớp. Còn cọp là một vện tàu cau, vừa lớn vừa dữ. Hai bên đánh nhau cả buổi vẫn không bên nào chịu nhượng bên nào. Rồi hai bên đều dừng lại, đứng thủ thế ghìm nhau. Lía đi lẻn ra phía sau lưng cọp, thình lình nhảy bổ tới, tay ôm cổ, chân kẹp hông. Cọp thất kinh nhào lộn mấy vòng, nhưng Lía đeo cứng không sao hất ra nổi. Cọp thất thế, vuốt không dùng được, nanh không dùng được, chỉ cố sức vùng giãy để thoát thân. Cọp càng vùng giãy, Lía càng siết chặt. Cọp nghẹt thở, lần lần đuối sức rồi tắt hơi. Lão trượng vui mừng đến hỏi. Lía thưa rõ lai lịch. Lão trượng tỏ ý muốn đem về nuôi. Lía hớn hở đưa về xin phép mẹ. Bà mẹ làm lễ rồi gởi con cho lão trượng. Lão trượng để cọp lại cho mẹ Lía xẻ thịt bán làm vốn nuôi thân và dắt Lía lên núi.
Lão trượng vốn là một võ tướng của nhà Lê. Vì chán họ Trịnh, ghét họ Nguyễn, bỏ quan về ở ẩn. Lão trượng dạy Lía võ nghệ. Lía học văn thì tối, mà học võ lại rất sáng. Học đâu thuộc đó. Học quyền xong, học sang kiếm, côn… Môn nào cũng tinh nhuệ. Lía lại tự luyện được phép phi thân, đứng đỉnh núi này nhảy sang đỉnh núi kia một cách dễ dàng như nhảy qua khe suối. Lại có thể đứng dưới đất nhảy lên đọt cây cao đứng như con chim, rồi nhảy xuống nhẹ nhàng như một chiếc lá rụng.
Lía ở núi hơn năm năm. Sau khi lão trượng qua đời thì trở về cùng mẹ. Lúc bấy giờ Lía đã trưởng thành, thường ngày lên núi kiếm thịt về nuôi mẹ. Nhưng tánh khí ngang tàng, không chịu nổi những cảnh bất công trong xã hội, nên thường can thiệp vào việc người. Bọn cường hào, ô lại rất ghét, nhưng sợ không dám làm gì.
Một hôm, một tên lính nha về làng, cậy thế hiếp đáp dân chúng, Lía nổi giận đánh chết. Bọn cường hào được dịp trả thù, liền đi báo quan. Quan cho lính đến vây nhà bắt. Biết rằng không thể ở quê nhà được nữa, Lía bèn cõng mẹ, nhảy chuyền từ nóc nhà này sang nóc nhà nọ, chạy ra bờ sông Côn, nhảy sang qua Phú Phong, đi thẳng vào núi xanh trú ẩn.

Vào núi, Lía gặp một đoàn lục lâm mời làm chúa. Lía sai sửa sang thành Uất Trì (còn gọi là Thành Lía) của Chiêm Thành ở Bá Bích làm sơn trại. Ngày ngày, Lía và đám lâu la kéo nhau đi ăn cướp, dân tuần, lính canh không chống nổi, ai nấy đều khiếp sợ. Nhiều nhà giàu thuê võ sĩ đến giữ tài sản nhưng tất cả xa gần đều thất đảm mỗi khi bọn Lía đến. Vì tay côn của Lía mỗi khi vung ra thì hàng nghìn người phải ngã quỵ, không một võ sĩ nào có thể chịu nổi một roi. Bởi vậy tiếng tăm của bọn Lía lừng lẫy khắp nơi. Không ai còn dám lãnh giữ của mướn, và bọn Lía đến đâu, không ai dám chống cự.
Nhưng không bao giờ Lía lấy của những người không dư ăn dư để, mà chỉ lấy của những nhà giàu, nhất là nhà giàu bất nhân thất đức. Lía lại đặt ra lệ:
- Nếu chủ nhà biết điều đem của ra dâng, thì bọn Lía lấy hai phần để lại cho chủ một phần. Vàng bạc, lúa thóc cũng như bò trâu heo dê. Bằng kháng cự thì bị đánh lấy hết. Nếu đi báo quan để cầu cứu, thì nhà cửa bị tiêu tan, có khi còn bị thiệt mạng.
- Những của cướp được, đem về trại một phần, còn bao nhiêu đem phân phát cho người nghèo khó, trước hết là người trong địa phương bị cướp.
Bởi vậy, chỉ có nhà giàu oán bọn Lía mà thôi.
Lại thêm, chẳng những Lía ăn cướp của nhà giàu, đem san sẻ cho nhà nghèo, mà còn luôn luôn bênh vực, che chở cho những kẻ yếu thế bị hà hiếp. Nhiều tên cường hào, nhiều tên tham quan ô lại bị xẻo mũi cắt tai, hoặc bị bể đầu vỡ mặt.
Kẻ cầm quyền tìm đủ mọi cách để trừ khử bọn Lía, song nơi sào huyệt thì không dám vào vì núi khe hiểm trở, một vào không còn mong ra. Còn những khi có vụ cướp xảy ra, hễ quan quân hay tin kéo đến, thì bọn Lía đã đi rồi. Đôi lúc gặp được lại chỉ thêm khổ cho quân lính mà thôi, vì phần thì ngọn roi của Lía vương nhằm ai thì không còn mong sống, phần thì đồng bào tìm cách ủng hộ ngấm ngầm… không tài nào bắt được. Cuối cùng phần ai nấy lo!
Lía vào Bá Bích được ít lâu thì bà mẹ tạ thế. Không nỡ để mẹ nằm nơi quê người, Lía quyết đem di hài về chôn ở Phú Lạc. Nhưng chôn ở đồng bằng, sợ về thăm viếng bất tiện, lại sợ bọn cường hào manh tâm xâm phạm đến phần mộ, Lía bèn chọn đỉnh Trưng Sơn. Trưng Sơn ở Bắc Ngạn sông Côn, cách sơn trại của Lía chừng năm, sáu cây số đường thẳng, xiên xiên về hướng Tây Bắc. Để đưa mẹ về, Lía đội quan tài lên đỉnh núi Chớp Vàng ở phía ngoài sơn trại. Một tay đỡ quan tài, một tay cầm chiếc mâm đồng ngắm về hướng Trưng Sơn, ném mạnh. Mâm đồng vút bay, Lía đội quan tài nhảy theo đứng trên mâm, rồi lấy thế nhảy vọt một nhảy nữa đến Trưng Sơn. Chôn cất mẹ xong, Lía khuân một tảng đá to đặt lên trên mộ để giữ nắng mưa, và kê hai thớt đá nhỏ lên nhau ở bên mộ để ngồi khóc mẹ.
Mẹ mất rồi, Lía buồn bỏ Tuy Viễn ra Phù Ly thăm mộ cha rồi thẳng đường đi thẳng ra phía Bắc. Một đoản côn, một khăn gói, lang thang hết Phù Ly đến Bồng Sơn.
Một buổi chiều Lía đi ngang qua Truông Mây. Tứ bề vắng lặng. Thấy đại thế hiểm yếu, dừng chân ngắm nhìn. Bỗng một toán cướp, kẻ hèo người mác, từ trong rừng kéo ra đó đường:
- Muốn qua truông, phải để khăn gói xuống.
Lía cười:
- Ai đời ăn cướp lại giựt của ăn cướp bao giờ.
Bọn cướp không thèm đáp, áp tới đánh, Lía đưa nhẹ cây đoản côn ra đỡ. Mấy tên ngã lăn. Mấy tên khác xông vào, cũng bị gạt ngã lăn nữa… Chúng thất kinh chạy lên núi báo cùng chủ trại.
Chủ trại là hai tên cướp nổi danh, tục gọi là cha Hồ và chú Nhẫn. Cha Hồ, Chú Nhẫn nghe báo liền vác đại đao xuống núi. Trông thấy tướng mạo của Lía tầm thường, vóc vạc lại không lấy gì làm cao lớn, cha Hồ, chú Nhẫn chê không xứng tay… Lía nổi xung đánh một côn. Cha Hồ đưa đao lên để thì đao văng. Chú Nhẫn tiếp đánh. Lía hất đao co chân đá lăn cù. Cha Hồ chú Nhẫn thất kinh! Hỏi ra, biết là Lía, mừng rỡ đó lên sơn trại, mở tiệc chung vui. Lía cho biết việc mình. Cha Hồ, chú Nhẫn liền tôn lên làm đệ nhất trại chủ.
Lía sửa đổi kỷ cương, không cho chận đường cướp giựt nữa, và đem thi hành chánh sách đã áp dụng ở quê hương: Lấy của nhà giàu chia cho nhà nghèo. Truông Mây nổi tiếng hơn trước. Bọn giàu có quyền thế đêm ngày lo sợ nơm nớp. Còn đám bình dân thì vui vẻ làm ăn. Người đi qua Truông Mây không còn phải lo nộp tiền mãi lộ.
Được ít lâu ở thành Quy Nhơn tổ chức cuộc thi võ để chọn nhân tài cầm quận đi đánh Trịnh. Cha Hồ, chú Nhẫn bàn cùng Lía đi lập công danh. Lía ưng thuận, cùng cha Hồ, chú Nhẫn thay đổi y trang xuống núi.
Thanh thế Truông Mây tuy lừng lẫy xong không ai biết mặt những kẻ cầm đầu. Nhờ vậy mà bọn Lía vào thành được vô sự. Nhưng lại rủi gặp phải viên giám khảo là một tên tham quan, lấy tiền tài làm chủ nghĩa. Bọn Lía không chịu lo lót nên bị đuổi ra như một số võ sĩ chỉ đến với tài năng. Bọn Lía tức mình về Truông Mây kéo lâu la xuống đốt phá trường thi và bắt giết viên giám khảo. Nhân lúc bất ngờ, đánh phá luôn kho lương và cướp đem về núi một số lớn. Tuần phủ Quy Nhơn ra quân truy kích. Nhưng đến Truông Mây thì bị đánh lui.
Quyết tảo thanh Truông Mây, tuần phủ cho thêm binh đến vây đánh. Nhờ thế núi hiểm xung, bọn Lía giữ vững được sơn trại.

Một đêm, trong khi quân lính bao vây sơn trại, Lía cùng một ít quân lâu la lẻn ra đường núi, đi thẳng đến thành Quy Nhơn. Thừa lúc tối trời, Lía cõng lâu la nhảy vào thành, phóng hỏa đốt các doanh trại. Quân canh không trở tay kịp. Lửa cháy ngất trời. Nhân dân trong thành tưởng giặc đến cướp thành, kéo nhau mà chạy. Kẻ chạy lên, người chạy xuống… hớt hải quấn quít, xô lấn nhau, dậm đạp nhau. Tiếng khóc tiếng la vang dội khắp đây đó… Viên tuần phủ giật mình thức dậy, vừa bước chân xuống đất thì đầu liền bay! Người ái thiếp cùng chung gối bị bắt mang đi…
Không biết giặc nhiều ít thế nào, sợ Quy Nhơn bị thất thủ, bọn quan lại phò tá viên tuần phủ liền hỏa tốc gọi quân cứu viện về giữ thành. Phần bị Lía gặp giữa đường chận đánh, phần bị cha Hồ chú Nhẫn thúc lâu la đuổi theo đánh, quân Quy Nhơn thất kinh không dám chống cự ném khí giới chạy thoát thân …
Được tin Quy Nhơn có biến, quan Thừa Tuyên dinh Quảng Nam, một mặt cho binh vào cứu viện, một mặt làm sớ tâu về Phú Xuân. Chúa Nguyễn cử người vào trấn Quy Nhơn và cấp thêm một đạo tinh binh để dẹp giặc.
Lía biết trước cho đắp thành lũy thêm cao và mở thêm đường bí mật để tiếp tế cho được dễ dàng trong khi bị bao kích. Địa thế đã hiểm, việc phòng bị lại chu đáo, nên Truông Mây bị công phá mấy năm liền vẫn không chút nao núng. Liệu dùng sức không thắng nổi, viên trấn thủ Quy Nhơn rút quân về để mong thắng bằng mưu. Dò biết nàng ái thiếp của cựu tuần phủ, từ khi bị bắt về trại, được Lía tin yêu lấy làm vợ, y bèn tìm người thân quyến của nàng cho vào trại dụ dỗ làm nội ứng.
Mưu chước đã thành, chỉ còn chờ cơ hội.
Một hôm bọn Lía đánh cướp được một đám lớn, về xẻ bò mổ trâu ăn mừng. Vợ Lía lén bỏ thuốc mê vào rượu. Cả trại đều say vùi. Lía và cha Hồ chú Nhẫn bị nàng ép uống, cũng say. Hồ Nhẫn thì nằm gục nơi bàn tiệc mà ngủ. Còn Lía thì gượng vào nội tẩm. Lúc bấy giờ trời đã khuya.
Nơi Lía nằm không để vật gì khác hơn là một tấm phản ngựa gõ độc chiếc, dày hơn một gang, rộng năm gang và nặng đến mươi người khiêng. Lúc nghỉ ngơi Lía cởi trần nằm sải trên phản, không cần chăn, không cần gối.
Lía lảo đảo vào nằm sải nơi phản. Vừa đặt lưng thì ngủ thiếp. Vợ Lía lấy dây thừng trói tay chân chắc chắn rồi trói ghì cả châu thân vào tấm phản. Lại biết Lía có đầu tóc dài và lợi hại như đầu tóc Lã Bố, nàng rẽ mái tóc vóc thành hai đuôi sam làm dây cột siết đầu Lía vào phản. Nàng trói luôn cha Hồ chú Nhẫn bỏ nằm giữa trại. Đoạn mở cửa thành đi thẳng về Quy Nhơn báo tin cho viên trấn thủ.
Viên trấn thủ Quy Nhơn đem quân lên trại Lía thì đã gần sáng. Cả trại đều còn say. Trong ngoài im phăng phắc. Cửa thành bỏ trống. Nhưng viên trấn thủ còn ngại Lía bày mưu gạt gẫm nên không dám cho quân nhập thành. Quân vây thành đợi trời thật sáng. Sau khi cho người dò la hư thiệt, viên trấn thủ hô binh ùa vào thành. Lúc bấy giờ một ít lâu la vừa tỉnh rượu thấy quân lính kéo vào, thất kinh la ó. Nhưng bọn lâu la giật mình tỉnh dậy, chưa kịp đứng lên thì lớp đã bị chết, lớp bị bắt! Cha Hồ, chú Nhẫn không cựa quậy nổi! Lía nghe ồn, mở mắt, thấy mình bị trói, nổi giận hét lên một tiếng, giãy đứt dây trói chân… Vừa lúc ấy quân lính ùa vào bắt. Lía vùng đứng lên, mang tấm phản sau lưng. Quân lính áp tới, Lía quay tròn mình, dùng phản làm binh khí, đánh ngã tất cả. Ra ngoài thấy toàn thể bộ hạ bị hại, liệu không phương cứu vãn, bèn mở vòng vây, mang tấm phản nhảy lên núi. Quân lính không thể đuổi kịp, đánh phá hủy sơn trại, rồi dẫn bọn cha Hồ chú Nhẫn về Quy Nhơn.
Lía lên núi, cứ mang tấm phản, theo đường rừng mà đi. Phần thương đồ đảng bị hại, phần giận con đàn bà gian ác, Lía muốn xuống thẳng thành Quy Nhơn để trả thù. Nhưng không sao cởi được trói. Đi mãi trong rừng ngót mấy ngày đêm, chợt nhớ lại cảnh cũ, bèn băng rừng về Phú Phong. Vào Bá Bích thấy thành lũy đã bị phá tan hoang, cảnh vật đìu hiu quạnh quẽ! Phần thì đói, phần thì mỏi, phần thì buồn thương… Lía không muốn đi nữa. Dựa tấm phản vào vách đá đứng nghỉ, lòng phân vân chưa biết phải làm gì đây. Chợt một ông lão, dép da trâu, vai mo cơm đòn gánh, tay xách rựa, ung dung đi tới. Lía gọi đến nhờ mở dây. Ông lão không chút chần chờ. Mở xong hỏi:
- Kẻ anh hùng sao nỗi sa cơ thất thế?
Lía đáp:
- Có cơm cho ăn rồi sẽ nói chuyện.
Ông lão trao mo cơm bầu nước. Lía ăn uống xong, thuật hết mọi nỗi rồi nói:
- Chỉ vì một con đàn bà mà bạn bị hại, thân bị nhục tội thật đáng chết. Ơn lão trượng mở giùm dây trói, cứu giùm đói, không biết lấy gì đền đáp. Kính dâng vật này để đem xuống phủ lãnh thưởng.
Nói đoạn giựt rựa nơi tay ông lão, tự chặt vào cổ… Máu phun đầu rơi!
Ông lão ứa nước mắt nói:
- Sao nhà ngươi nóng nảy thế?! Lão đây tài sơ sức yếu phải đợi chết già. Chớ nếu được như nhà ngươi thì há để cho bọn tham quan ô lại sống an nhàn trên mồ hôi nước mắt của dân chúng.
Rồi lo chôn cất Lía tử tế. Về nhà kể chuyện lại cho con cháu nghe, dặn không nên tiết lộ cho bọn quan quyền biết và nói:
- Nếu Lía gặp được người như Lưu Huyền Đức để phò, hoặc có một người như Phạm Tăng ra giúp, thì sự nghiệp nhất định vẻ vang. Có thiên tài mà không có thiện duyên, cũng trở thành vô dụng.
Lại nói:
- Những kẻ có tài xuất chúng, không thể đem tài năng ra giúp đời được, thì không làm ăn cướp còn biết làm gì để bài tiết được nổi uất hận ở trong lòng!
Còn viên tuần phủ Quy Nhơn ra sức truy nã Lía, lâu ngày không thấy thu được kết quả gì, bèn bỏ qua. Và để trừ hậu họa, sai phá bằng tất cả thành lũy và chặt hết mây ở nơi Truông.
Truông Mây hiện thời chỉ là kỷ niệm.
Và từ khi sào huyệt của cha Hồ, chú Nhẫn bị diệt, khách bộ hành thỉnh thoảng có đi qua. Đối cảnh nhớ người, bèn soạn ra câu hát:
Chiều chiều én liệng Truông Mây,
Cảm thương chú Lía bị vây trong thành.

Theo Quách Tấn - Nước Non Bình Định
Truông Mây Bây Giờ:
Truông Mây có tên nữa là Hóc Sâu, ở quận Hoài Ân, xã Ân Đức: Chạy từ thôn Phú Nhuận ở phía Bắc đến thôn Vĩnh Hòa ở phía Nam. Dài độ vài ba cây số. Hai bên mây mọc thành rừng, gai góc tua tủa. Cho nên gọi là Truông Mây. Phía đông, nhánh sông Kim Sơn chảy từ Nam ra Bắc, cuồn cuộn lục lìa. Phía Tây núi non trùng điệp và hòn núi Một tách ra đứng sừng sững bên truông. Quang cảnh man dại. Người cứng bóng vía đến đâu, lúc gió chiều sương sớm quạnh quẽ hắt hiu, một mình đi ngang qua cũng cảm thấy rờn rợn. Lại thêm nhiều cọp. Cho nên hành khách ít dám qua lại, ngày nay cũng như ngày xưa, thời bình cũng như thờ loạn, ít người qua lại, nhưng ở Bình Định không mấy ai không biết tiếng Truông Mây


QUA TRUÔNG MÂY

Trèo lên ngọn núi quê hương
tìm trong muôn mặt âm dương ngũ hành
tóc mây ràng cuộc tử sanh
bàn tay giữ một rách lành càn khôn
Lặng nghe bão Thái Sơn Côn
U Linh Thương sét, Tru Hồn Kiếm mưa
vang như sấm lặng như tờ
mê man hổ suối say sưa hạc ngàn
Tôi cầm một nắm đêm tàn
ném vào thành lũy bàng hoàng cung đao
qua truông mượn gió để chào
mượn đôi cánh én gọi hào kiệt bay.

Nguyễn Thanh Mừng
--------------------------------------------------

(*) Những chữ in đứng là tên các bài võ - Trích từ Hoàng Tuấn, Qui Nhơn


Thứ Năm, 2 tháng 6, 2011

Một số lễ tục tập quán tại các lò võ cổ truyền


1- Giỗ Tổ

Nghề nào tổ nấy. Theo võ sư Phan Thọ, ngày xưa các lò võ đều thờ ba vị thánh tổ là Dương Thiền lão tổ, Đạt Ma tổ sư và Tiêu Diện lão tổ. Có nơi còn thờ Bà Cửu Thiên Huyền Nữ và đức Quan Thánh đế (Quan Công).

Về sau, đối tượng được suy tôn là tổ sư ở mỗi võ đường một khác. Nhiều lò võ ở Tây Sơn vừa thờ chư vị thánh tổ nói trên vừa thờ Tây Sơn tam kiệt: Nguyễn Nhạc - Nguyễn Huệ - Nguyễn Lữ. Điều này thể hiện sự dung hoà giữa ý thức dân tộc với tinh thần tiếp biến văn hoá. Ngày giỗ tổ nghề võ không thống nhất. Lò võ Phan Thọ thờ vua Quang Trung, giỗ tổ ngày mồng 9 tháng giêng âm lịch. Còn lò võ Hồ Sừng thờ võ sư Hồ Ngạnh, giỗ tổ ngày mồng 6 tháng 2 (ngày mất của tổ sư Hồ Ngạnh).

Giỗ tổ là một nghi lễ mang tính truyền thống “uống nước nhớ nguồn”, cầu mong điều tốt đẹp cho môn phái, thắt chặt mối liên kết giữa những người đồng môn, đồng thời giáo dục cho thế hệ sau tinh thần tôn sư trọng đạo.


1.1- Ghi chép về lễ giỗ tổ tại lò võ Phan Thọ:

Thời gian: Từ 9 - 10 giờ tối (giờ Tuất) của đêm ngày 8 đến ngày 9 tháng Giêng âm lịch hàng năm. Nguồn gốc của ngày cúng tổ này là do ông Phan Thọ đặt ra, kết hợp với ngày cúng giỗ của gia đình ông hàng năm, nhưng khấn Tổ sư là Quang Trung - Nguyễn Huệ.

Các vị thần được khấn vọng: Cửu Thiên Huyền Nữ Thánh Tổ chơn quân, Quan Công Thánh Đế Chơn quân, Hữu vu Thánh Tổ chơn quân, Tiên sư, Tổ sư, Tôn sư, Vô dũng địch tướng mãnh lại phán Quan Vũ Lâm Đại tướng Tôn sư, Hỏa đức, Thổ đức, thập nhị tiên nương hộ chúng, Tiền hiền khai khẩn, hậu hiền khai khẩn liệt vị tôn sư, Hữu ban liệt vị, Tả ban liệt vị, Ngũ phương thổ công ngung đại thần, Thập chúng cô hồn thiện nam tín nữ thiên thiên lực sĩ, vạn vạn tinh binh, sơn lâm mãnh hổ.

Trong tổ đường thiết các bàn thờ như sau:

- Bàn thờ thứ nhất: Xung thiên

- Bàn thờ thứ 2: Phác đầu

- Bàn thờ thứ 3: Hổ đầu

- Bàn thờ bên trái (Tả ban): Ngũ bộ đăng đầu

- Bàn thờ bên phải (Hữu ban): Ngũ bộ đăng đầu

- Bàn thờ bên trái: Tiểu đầu

- Bàn thờ bên phải: Hổ đầu

- Bốn bàn vệ tiền: Liệt vị dương binh bộ hạ minh y các hạng cụ túc (đầy đủ các món đồ cúng cho các vị bộ hạ dương binh)

- Bàn cúng đất: Khuê liệp y cụ túc (đầy đủ áo, nón, dày, dép), đại hạn khuê liệp đơn bộ.

Minh y các hạng là y phục các loại, gồm có:

- Xung thiên quan (mão xung thiên), đi với mãng bào màu vàng, giày vàng.

- Cửu phụng quan (mão cửu phụng), đi với mãng bào màu đỏ, giày đỏ vẽ hình phụng.

- Xuân thu quan (mão xuân thu), đi với mãng bào màu lam và giày đỏ vẽ hình rồng; cũng có thể đi với mãng bào màu xanh và giày đen, khăn hồng.

- Phác đầu quan (mão phác đầu), đi với mãng bào màu đỏ và giày đen.

- Hổ đầu quan (mão đầu cọp), đi với áo bào ngũ hổ màu tía, giày đen hạng trung; áo bào màu vàng, màu đỏ mỗi thứ một bộ và giày 2 đôi, nón 2 bộ hạng trung; áo ngũ sắc 12 bộ, giày 12 đôi, nón 12 bộ, áo giao lãnh 2 bộ và 2 đôi giày.

- Tiểu hạng phác đầu quan (mão phác đầu loại nhỏ) đi với áo gấm, mỗi thứ 6 bộ và giày 2 đôi, áo ngũ sắc 2 bộ, áo gấm, minh y 200 bộ.

Lễ vật dâng cúng : 1 cặp vịt, 1 con gà (để xem giò), 2 trứng vịt, 2 con cua, 2 miếng thịt heo, 2 miếng sườn heo, rượu trắng, chè, xôi, bông, chuối, đồ vàng mã…

Ban nghi lễ gồm: Chánh bái (võ sư Phan Thọ), bồi bái, tả hữu chủ ban, thầy lễ và học trò gia lễ.

Nghi thức tế Tổ sư: Khởi chiêng trống, nhạc nhã. Ban tế lễ vào vị trí lạy, dâng rượu, đọc văn tế, đốt văn tế, dâng rượu, dâng trà, lạy Tổ.

Ban nhạc nhã phục vụ trong lễ giỗ tổ tại hai võ đường Phan Thọ, Hồ Sừng chính là đoàn võ nhạc của Bảo tàng Quang Trung.

Thành phần khách mời : Khi cúng Tổ ông Phan Thọ thường mời đại diện các môn phái và các bạn hữu đồng môn, học trò về tham dự.

Ngoài lễ vật dâng cúng, tùy theo quy mô định trước và lượng khách mời mà gia chủ (võ sư Phan Thọ) làm bò hay heo và sắm sửa các mâm tiệc khoản đãi.

Phần hội : Sau các nghi thức tế lễ, các võ sư, võ sĩ trong môn phái thường ra sân diễu võ, trước là để trình Tổ, sau là để quan khách thẩm định về thành quả luyện tập của mình.

Các bài võ trình tổ ở lò võ Phan Thọ là các bài quyền mẫu mực: Ngọc trản, Thiền sư, Tứ hải, Hùng kê, Lão hổ, Lão mai; rồi mới đến các bài sử dụng binh khí.


1.2- Ghi chép về lễ giỗ tổ tại lò võ Hồ Sừng:

Về trình tự lễ giỗ tổ tại lò võ Hồ Sừng cũng tương tự như ở lò võ Phan Thọ. Chỉ khác về thời gian, lời khấn. Các nghi thức có phần đơn giản hơn.

Thời gian: Ngày mồng 6 tháng hai âm lịch hàng năm, là ngày giỗ Tổ sư Hồ Ngạnh, do ông Hồ Sừng và các đại đệ tử của cố võ sư Hồ Ngạnh thống nhất. Võ sư Hồ Sừng chủ trì lễ giỗ, võ sư Lê Thành Phiên được mời giữ vai Chánh bái trong ban nghi lễ.

Các bài võ trình tổ ở lò võ Hồ Sừng lấy roi làm chính, các bài tiêu biểu: Thất bộ, Bát quái, Thái Sơn, Tiên ông, Tề mi, ...


Lễ bái sư:

Người Bình Định xưa không mấy ai là không học lấy một vài miếng võ. Nhà nghèo cho con học võ để phòng thân, để tìm cơ hội kiếm sống, lập thân. Nhà giàu cho con học võ để tăng cường thế lực, thị uy; thậm chí cho người ăn kẻ ở đi học võ để bắt trộm, giữ của. Cha mẹ có ý định cho con học võ ai thì sắm sửa trà rượu dẫn con đến nhà thầy (võ sư) thưa gửi. Người thầy qua câu chuyện dò xem tính ý của cha mẹ thực bụng muốn cho trẻ học võ hay vì thấy trẻ ham võ quá mà phải chìu. Sau khi đã nghe phân qua lai lịch, nguyện vọng của gia đình, người thầy sẽ xem tướng mạo và đưa ra một số câu hỏi để thử tính ý, trí lực, năng khiếu của trò.

Sau khi xem qua tướng mạo và tiên đoán về tính hạnh trò, nếu muốn nhận, người thầy bắt đầu nói với trò và cha mẹ trò về những quy định của môn phái.

Tiêu chí quan trọng hàng đầu trong chọn học trò là đạo đức tư cách. Võ sư Hồ Sừng nói: “Phải học đạo đức, đạo lý trước sau đó mới tới học võ. Đạo đức và võ phải đi song song với nhau. Phải khiêm tốn học hỏi, không được xưng hùng, xưng bá mà phải rèn luyện đạo đức và võ thuật cho thật tốt. Phải biết cương và nhu cho hợp lý ”.

Những quy định mà một người thầy đưa ra cho học trò thường xoay quanh các yêu cầu về tinh thần nhân ái hướng thượng và những phẩm chất chuyên cần, kiên trì, cầu tiến, tinh thần kỷ luật và sự trung thành tuyệt đối với sư môn. Ngoài ra còn có điều kiện về “học phí”. Bởi vì ở Bình Định, dạy võ cũng là một nghề để sống. Con nhà có của đi học thì nộp bạc, vàng. Con nhà nghèo vừa đi học vừa làm công, ở đợ để trừ dần. Những học trò ham học, có năng khiếu mà gia cảnh đặc biệt khó khăn, nếu gặp được người thầy đại lượng sẽ được dạy miễn phí, có khi còn được nhận làm con nuôi (nghĩa tử).

Sau khi nghe qua các quy định và các điều kiện, nếu cha mẹ và trò bảo đảm sẽ làm theo thì thầy mới định ra ngày lành tháng tốt làm lễ cúng tổ cho trò bái sư, gia nhập môn phái.

Thức dâng cúng trong lễ cúng tổ gia nhập môn phái gồm một cặp vịt, một con gà trống, vài tợ thịt lợn (sườn), 2 quả trứng vịt, 2 con cua, 2 con ốc bươu, chè xôi, hương, hoa, trà, quả. Các thức này thường là do phía gia đình học trò chuẩn bị, người nào nghèo có thể giảm cặp vịt, trường hợp nghèo “rớt mùng tơi”, thì đến thịt lợn, chè xôi cũng giảm được, nhưng con gà trống thì không thể thiếu, mà phải là gà trống choai chưa biết gáy. Coi giò gà là một nghi thức bắt buộc trong lễ cúng tổ gia nhập môn phái. Tương truyền, qua việc coi giò gà, có thể biết được tính cách, cử chỉ và tiên đoán được hậu vận, duyên nghiệp của học trò: dở hay giỏi, hư hay nên, nửa đường đứt gánh hay công thành danh toại.

Kết hợp xem tướng với xem giò gà, nếu nhận thấy người nào hiểm độc, hoặc có điềm báo về sự “đứt gánh giữa đường” hoặc phản sư thì thầy kiên quyết không nhận. Cũng có học trò tướng ẩn, tiếp xúc lần đầu không thể biết ngay được, trong quá trình dạy mới phát hiện, người thầy với những trường hợp như thế thường có cách uốn nắn, khắc chế hoặc đối phó riêng. Với những học trò như vậy, người thầy không bao giờ dạy các ngón đòn độc hoặc các chiêu thức bí truyền. “Thà bỏ mất không truyền cho những kẻ bất nhân”- đó là phương châm của võ sư Hồ Ngạnh, đã trở thành nguyên tắc của các võ đường họ Hồ tại Thuận Truyền.

3- Kinh nghiệm xem tướng học trò

a- Xem mặt, mắt, mày: Theo kinh nghiệm của các võ sư Phan Thọ, Hồ Sừng, Trần Dần, Văn Xuân Ngọc, thì xem mặt là bước đầu tiên của tướng pháp. Về mặt con nhà võ, cần chú ý những điểm sau:

Mặt chữ điền, trán vuông, cằm vuông, hàm nở là tốt. Mặt tròn hay trái xoan cũng tốt. Trán rộng, gò má không cao là người có hậu. Nhân trung sâu là người trung thực. Mặt ốm choắt như mặt chuột là người có tâm địa độc ác. Mặt lưỡi cày, nhìn thấy bẻm và có mái tóc vàng là người thiếu trung thực. Mắt to, tròng đen tròng trắng phân minh là người trung thực. Mắt sáng là thông minh và có sức mạnh. Mắt nhìn như có làn điện phát ra là người có uy lực. Mắt lồi là người có sức mạnh mà gan dạ, miệng nói sợ chứ lòng không sợ. Mắt lé là người bẻm và độc ác. Mắt sụp là không trung thực. Mắt nhỏ, mắt hí là người hiểm tâm, ác độc không lường hết được. Lông mày ngắn mà đậm là có sức mạnh nhưng tính cộc. Lông mày đậm hơi xếch biểu hiện sức mạnh, nhưng lông mày xếch ngược lại là biểu hiện của sự hung hãn, bạo ngược.

c - Xem tay: Theo kinh nghiệm của võ sư Hồ Sừng.

Bàn tay dài, các ngón tay cũng dài hơn người bình thường là bàn tay có nhiều biệt tài. Bàn tay cù (bàn tay và các ngón tay ngắn và thô) là bàn tay sát sanh, nghĩa là đánh đâu không chết thì cũng bệnh.

d - Xem hình thể, xương, khớp xương:

Trong làng võ có câu: “Nhứt có tài, nhì dài sào”. Có tài là năng khiếu. Dài sào chỉ sự cao ráo về hình thể. Vóc dáng cao mà lưng, chân cân phân (cân đối) là tốt. Vai rộng và thẳng, lưng thẳng, chân tay thẳng, lưng có hình tam giác là có năng khiếu và đánh tốt. Lưng dài, chân ngắn là lười biếng. Lưng hơi gù là người chậm chạp, nhưng thể lực mạnh.

Lồng ngực to và nở là người có thể lực tốt và mạnh. Lồng ngực nhỏ và lép là người có thể lực kém và yếu.

Ót thẳng là tốt. Người nào dưới ót có xương phản cốt gồ lên, thì sớm muộn cũng làm phản.

4- Kinh nghiệm xem giò gà:

Chân chúm lại, màu sắc tươi đẹp là người có năng khiếu và đạo đức tốt.

Chân kẹp cổ: phản sư.

Móng chân ngón giữa bấm vào ngón cái (chân bấm cái): phản bạn, có tính cộc và bẻm, không tốt.

Ngón chân thứ hai quặt xuống lòng bàn chân: cha hoặc mẹ không muốn cho con học võ.

Chân tõe ngoắc và các ngón chân chỉ thiên, chỉ địa là người không có năng khiếu, học đâu quên đó.

Nếu gân nổi bầm đen là dấu hiệu người học trò ấy sẽ không tránh được thương tật, nửa đường đứt gánh.

Bây giờ, tục coi giò gà vẫn còn được các ông thầy võ ở Thuận Truyền và An Vinh áp dụng.

Thứ Ba, 10 tháng 5, 2011

HẦM HÔ - NƠI TRỜI NƯỚC HỘI TỤ

Danh thắng Hầm Hô cách thành phố Qui Nhơn hơn 55 km về hướng Bắc, thuộc địa phận thôn Phú Mỹ, xã Tây Phú, huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định. Không rõ cái tên dân dã và lạ tai này có tự bao giờ mà ý nghĩa của nó mỗi người giải thích một khác. Có người cho rằng do ở đây có một thác nước cao chừng sáu, bảy mét, đổ vào một hầm đá rộng, phát ra tiếng kêu ầm ồ như tiếng hô báo cho người chèo bè mảng trên dòng biết sắp tới chỗ nguy hiểm mà lo phòng bị nên gọi là Hầm Hô. Lại có người giải thích rằng ở miệng Hầm Hô đá mọc lởm chởm, chìa ra giống như hàm răng hô nên có tên ấy (!)

Thắng cảnh Hầm Hô.

Hầm Hô là nơi gặp gỡ của hai nhánh sông Đồng Hưu và sông Cát đổ vào sông Phú Phong. Thắng cảnh là cả một khúc sông dài tới gần ba kilômét, hai bên bờ là những khối đá trập trùng, chỗ thì dựng đứng như thành vách, nới thì chồng chất lên nhau thành đống, lại có đoạn đá nhọn lởm chởm như những thanh gươm dựng đứng.. Làm dịu đi vẻ hiểm trở của những vách đa nhấp nhô là những lùm cây xanh mướt. Nhưng bụi sim, mua lá xanh, hoa tím xen lẫn những khóm phong lan cheo leo trên đá, lửng lơ trên những cành cây. Điểm xuyết vào đó là những cây cổ thụ im lìm như đang trầm mặc suy tư. Xa xa là những rừng hoa ngâu đốm vàng với lác đác những khóm Mai trắng ẩn hiện. Cây cối mọc lâu ngày, rễ rủ như tóc xõa, xoi bóng xuống mặt nước lung linh, nới từng đàn cá đang tung tăng bơi lội. Sông Hầm Hô có tiếng là nhiều cá, nhất là về mùa lũ. Cá từ khắp nơi kéo về từng bầy trông đặc cả nước. Các lội ngược dòng bị thác nước hất tung trở lại trông như thể cá bay. Dân gian truyền rằng, hàng năm Long vương tổ chức kì thi cho cá tại thác Hầm Hô. Con nào vượt qua được sẽ hóa thành rồng, nên cá từ sông Côn dồn cả về đây để thử vận may. Có lẽ do điển tích này mà thác Hầm Hô còn có tên chữ là Vũ Môn, còn dân gian gọi là thác Cá Bay. Vậy mới có thơ rằng:

Hầm Hô nước chảy trong xanh

Dưới sông cá lội, trên cành chim reo.

Thế nhưng, cảnh đẹp đích thực của Hầm Hô khiến du khách viếng thăm phải sửng sốt về sự tạo hóa của thiên nhiên ngay dưới lòng sông. Với chiều rộng trên dưới ba mươi mét, lòng sông chi chít những trụ đá hoa cương thiên hình vạn trạng. Vào mùa nước cạn, những ngày trời trong xanh, khi những tia nắng ban mai rọi xuống, những khối đá hoa cương ánh lên muôn màu lóng lánh, rực rỡ như ngàn vạn viên kim cương khoe mình trên làn nước trong xanh. Hình dáng thật kì dị của những trụ đá đã chấp cánh cho trí tưởng tượng của bao thế hệ của cư dân nơi đây. Hòn lớn, hòn nhỏ, khối vuông, khối tròn, có những cụm nhìn tựa đàn voi đang tắm, có những dãy trông như thể bầy ngựa đang phi. Lại có tảng chẳng khác gì một con cá sấu khổng lồ đang há miệng săn người và rồi biết bao hình dạng giống như người, như thú, như vật dụng thường ngày…Tất cả bày la liệt, ngổn ngang mà hài hòa, mà ngoạn mục đến mức không một họa sĩ, một nhà điêu khắc tài danh nào có thể tạo dựng nổi.

Nếu có dịp du ngoạn bằng thuyền đi dọc sông, đắm mình vào thế giới huyền ảo của thiên nhiên, du khách sẽ có được cảm giác như đi vào thế giới thần thoại. Vượt qua bờ đập, đi ngược dòng sông một đoạn sẽ gặp một vách đá dựng đứng như tường thành với cái tên dân gian Hòn Đá Thành. Trên vách đá rêu phủ xanh rì, từng chùm rễ cây leo lòng thòng rủ xuống trong hệt như một bức tường thành cổ kính. Bên trái thành có một bãi đá chồng chất lên nhau. Liên tưởng như có một người khổng lồ đổ cả một thúng đá xuống lòng sông, dân trong vùng gọi đây là khúc sông Trời Lấp. Qua khúc sông nay, ngược tiếp dòng sông sẽ trông thấy hai bên nhiều khối đá lô nhô, hòn cao, hòa thấp với muôn vàn hình dáng khác nhau. Bên những hòn đá vây tụ vào nhau là một vũng nước sâu có tê vũng cá Rói. Vào mùa cạn nước, trong vũng vẫn đầy, từng đàn cá Rói từ khắp nơi đổ dồn về đây. Khi có mồi ăn, chúng xông vào tranh giành xâu xé, ngồi trên bờ xem không chán mắt. Tiếp một đoạn nữa, có một khối đá giống như một cá Sấu lớn nằm ngang giữa lòng sông, chắn dòng nước chảy xiết làm bọt bắn tung trắng xóa, nên có tục danh là hòn Trào. từ đây không thể đi thuyền được nữa. Muốn đi tiếp vào trong, phải lên bộ đi men theo bờ. Càng đi lại càng thấy lòng sông hẹp lại nhưng cảnh vật lại càng kì thú. Bất chợt từ trên bờ nhìn xuống, ta có cảm giác như không phải dòng sông mà trước mắt có cả một đàn cừu trắng đang nô giỡn trên thảo nguyên. Ngược về phía thượng nguồn, độ dốc càng lớn, nước chảy càng mạnh. Từng đoạn, từng đoạn chia khúc thành những thác nhỏ, nước chảy ầm ầm dội vào vách núi, cảnh vật càng thêm huyền ảo. Đây đó vang lên tiếng gù của chim Cu Gáy, tiếng hót véo von của chim Khướu, chim Vành Khuyên, tiếng kêu tích tích của những chú chim Sâu đang nhảy nhót trên cành. Thỉnh thoảng lại vang lên tiếng Tắc Kè vọng lại từ những hốc đá, lùm cây. Hương rừng ngào ngạt, diệu thơm hòa lẫn tiếng chim kêu ríu rít khiến cho du khách có cảm giác như lạc vào cõi thần tiên.

Năm tháng qua đi, nước chảy mài mòn những tản đá tạo thành vô số những khối hình lô nhô trông xa hệt như một cành san hô khổng lồ mà mỗi nhánh lại có một hình dáng riêng. Ba khối đá nhẵn thín chụm đầu vào nhau như cỗ đầu rau được đặt tên là Hòn Ông Táo. Xa xa nhìn những khối đá lúp xúp khiến ta liên tưởng đến cái nồi nấu cơm, bát, chén, một cái ấm pha trà…Truyền khẩu dân gian kể lại rằng đây là nới mà thần tiên trên trời thường xuống du ngoạn, vui chơi vào những lúc đêm khuya tĩnh mịch. Còn đó dấu chân trên đá của một ông khổng lồ ngồi câu cá. Nằm giữa lòng sông có một phiến đá với những nét ngang dọc, rêu phủ lờ mờ, tương truyền là nơi các vị tiên chơi cờ nên gọi là Bàn Cờ Tiên. Cạnh bàn cờ có hòn đá nước chảy xuyên qua, rồi ùn lên trông như sôi ùng ục. Người đời gọi đó là Hòn Vò Rượu.

Hầm Hô có đá khổng lồ,

Có hang Bảy Cử, có vò rượu sôi

Đúng vào nơi kì thú nhất thiên nhiên lại trải rộng cho du khách một khoảng trống đến hàng nghìn mét vuông có thể dừng chân hạ trại. Nước dưới suối nơi này cũng như hiền dịu hơn tạo thành một nơi tắm lí tưởng. từ đây có thể nhìn bao quát cả một vùng rộng về cả hai phía Đông, Tây. Con người dường như nhỏ bé lại trước một không gian mênh mông. Thắng cảnh Hầm Hô thật đồ sộ. Đá chất chồng, xếp thành nhiều tầng, nhiều lớp mà ngắm nhìn thì như đứng trước một tác phẩm điêu khắc hoành tráng và hoàn mĩ đến độ cho người xem một cảm giác choáng ngợp và trong lòng trào dâng những cảm xúc nghệ thuật. Những khối đá vô tri như sống động, như có hồn được bao phủ bởi rêu phong của thời gian, bởi huyền tích do con người thêu dệt. Những dáng vẻ vừa như tả thực, vừa như cách điệu siêu thoát đưa ta đi hết sự ngạc nhiên này đến sự ngạc nhiên khác mà sự linh diệu của thắng cảnh chỉ có thể cảm nhận phần nào khi được tận mắt nhìn thấy, được đắm mình trong đó.

Dường như mọi sự miêu tả bằng giấy mực đều không thể lột tả hết được vẻ đẹp của Hầm Hô. Hơn thế, đến đây du khách không chỉ được thưởng ngoạn cảnh đẹp kì ảo của thiên nhiên mà còn có dịp sống lại những ngày tháng hào hùng của lịch sử. Chính tại nơi đây, hơn hai trăm năm về trước vị danh tướng Võ Văn Dũng đã rèn quân luyện võ để rồi sau đó hợp lực với các thủ lĩnh Tây Sơn phất cờ khởi nghĩa. Cũng tại nơi đây, anh hùng Mai Xuân Thưởng đã xây dựng căn cứ kháng Pháp. Danh tháng này vì thế, còn có ý nghĩ thiêng liêng của một chứng tích lịch sử.

Thứ Năm, 5 tháng 5, 2011

RƯỢU BẦU ĐÁ - BÌNH ĐỊNH

Rượu bầu đá - đặc sản Bình Định. Tôi còn nhớ thời sinh viên ở TP. Hồ Chí Minh, tôi ở trọ cùng với 3 thằng (tôi nữa là 4) cùng khổ toàn là dân uống rượu được (lúc bấy giờ). Thường thường khi ngồi lai rai, 4 thằng có thể làm 1 lít (= 4 xị). Khi tôi về quê, đem rượu bàu đá vào, 4 thằng ngồi lại với nhau. chưa hết 1 xị mà 4 thằng đã ngã quay...

Ngày xửa ngày xưa, men theo hai bờ sông Kôn từ thượng nguồn xuôi về hạ bạn, có nhiều làng rượu ngon nổi tiếng, nhất là các làng: Vĩnh Phúc, Vĩnh Cửu, Tiên Thuận, Đồng Hào, Phú Lạc, Phú Mỹ, Vĩnh Lộc, An Vinh... Thuộc Tây Sơn hạ đạo, mà dân gian thường gọi là rượu Tây Sơn. Còn rượu Bàu Đá cái “Thương hiệu” của rượu Bình Định nổi danh trong Nam, ngoài Bắc ngày nay cũng chính là dòng rượu Tây Sơn, cùng thừa hưởng chung dòng nước ngọt ngào của ngọn nguồn sông Kôn được ủ lạnh, lọc trong từ những hộc đá ngầm ở Vực Bà, Nước Miên, Nước Trinh, sông Kxôm, Hầm hô... ban tặng cho một dòng sông, một vùng đất; nhưng cái tên rượu Bàu Đá như một câu chuyện dân gian lại bắt đầu từ xóm “Tân Long”.


Xóm có tên gọi Tân Long, (thôn Cù Lâm, xã Nhơn Lộc, huyện An Nhơn, tỉnh Bình Định), xưa nay chuyên nghề làm ruộng, tại xóm Tân Long có một cái bàu rộng khoảng 3 sào của ông xã Lựu, trong bàu có nhiều hòn đá to do thiên nhiên sinh ra, hằng năm ông xã Lựu tổ chức một ngày giậy bàu vào mùa hè, xóm gần- làng xa mọi người về đây bắt cá đông vui, ai bắt bao nhiêu cá cũng được, ông xã Lựu chỉ lấy một con gọi là “xâu”, vì vậy đã trở thành ngày hội bắt cá định kỳ ở cái bàu có đá xóm Tân Long và được dân gian gọi là xóm Bàu Đá. Từ khi xóm Bàu Đá nấu rượu và phát triển kinh doanh nghề rượu người ta lấy tên xóm Bàu Đá đặt cho tên rượu gọi là “ rượu Bàu Đá”.


Xóm rượu Bàu Đá ra đời muộn mằn so với các làng, xóm rượu trong vùng, đó là những năm 1947 - 1948, một số hộ gia đình: Ông Đinh Lý, Tám Cộng, Mười Mẫu, Ba Trương... mời ông Hương Lễ Nghè một nghệ nhân nổi tiếng nghề nấu rượu ở làng An Vinh, xã Bình An, huyện Bình Khê (nay là huyện Tây Sơn) tỉnh Bình Định sang dạy nghề nấu rượu, và cũng từ đây họ truyền nghề cho nhau, đến nay 40 hộ gia đình xóm Bàu Đá có đến 38 hộ chuyên nghề nấu rượu.


Hiện nay một số làng rượu truyền thống trong vùng Tây Sơn hạ đạo đã cải tiến nghề nấu rượu, miễn sao công ít, lợi nhiều. Đặc biệt ở cái xóm rượu Bàu Đá này vẫn giữ nguyên công thức cổ truyền mà ông Hương Lễ Nghè đã dạy, từ việc chọn gạo; kỹ thuật nấu cơm; họ không dùng các loại men bột công nghiệp ở TP Hồ Chí Minh như nhiều nơi dùng mà họ chọn loại men bánh dân gian, thường là men Trường Định (Bình Hòa), Bả Canh (Đập Đá). Tỷ lệ men và cơm, kỹ thuật ủ cơm rượu, đổ nước vào cơm rượu đã ủ phải lấy từ giếng bộng đất nung, hoặc giếng đá ong, không lấy nước giếng đất, giếng bêtông xi-măng. Họ không nấu nồi nhôm mà là nồi đồng, nắp đậy nồi bằng đất nung; cất rượu bằng ống tre… Từ đó đã cho ra loại rượu ngon có mùi thơm đặc biệt và “Thương hiệu” rượu Bàu Đá đã thay cho rượu Tây Sơn xưa. Nhưng cả vùng Tây Sơn hạ đạo có chung nước sông Kôn, những xómlàng rượu nào giữ gìn nghề nấu rượu theo công thức cổ truyền thì cũng có thể gọi là rượu Bàu Đá.


Thưởng lãm rượu Bàu Đá cũng cầu kỳ lắm lắm; Rượu trong bầu, chai, nậm phải rót ra bình gọi là ve vòi, cái ve vòi đựng rượu có câu đố dân gian rằng:


Thượng tiểu, hạ đa (Trên nhỏ, dưới to)

Tích thủy, phi thủy (Đựng nước nhưng không phải nước)

Thọ thai, bất thọ thai (Chửa nhưng không phải chửa)


Rót rượu ra chén cũng có kiểu, có cách: Ve vòi giơ cao, rót dòng rượu nhỏ ra chén hạt mít sao cho có tiếng kêu róc rách, vun bọt nhưng rượu không được tràn ra miệng chén. Ngậm một ngụm rượu trong giây lát, uống xong ta thấy đọng lại vị ngọt thanh, mùi thơm khó tả…


Ai về Bình Định mà chưa được thưởng thức món chim mía Tây Sơn; chim se sẻ, nem chợ huyện Tuy Phước nhâm nhi với chén rượu Bàu Đá coi như chưa về Bình Định vậy. Người Bình Định đi xa, khách thập phương mọi miền khi tạm biệt Bình Định cũng có vài lít rượu Bàu Đá để làm quà.


Rượu Bàu Đá thường được dùng trong những ngày giỗ chạp, lễ nghi, hội hè, đình đám, nhất là những ngày Tết cổ truyền. Con cháu nội ngoại về mừng tuổi ông, bà có chén rượu Bàu Đá đặt lên bàn thờ thắp nén hương thành kính ta thấy ấm cúng thiêng liêng...


“Rượu Bàu Đá” nét văn hóa đặc trưng của miền đất võ Tây Sơn, Bình Định.