Hiển thị các bài đăng có nhãn bài hát bình định quê tôi. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn bài hát bình định quê tôi. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Tư, 15 tháng 6, 2011

Những điều ít biết về mộ Hàn Mặc Tử

Mộ Thi Sĩ Hàn Mặc Tử tại Qui Nhơn, Bình Định


Đứng từ con đường mới mở chạy ngang sườn núi ven thành phố Quy Nhơn (Bình Định), vào những ngày trời ít sương mù, người ta có thể nhìn thấy những mái nhà của làng phong Quy Hòa lô xô ven biển. Con đường dốc đổ xuống nơi thi sỹ Hàn Mặc Tử sống những ngày cuối đời hơn nửa thế kỷ trước, lượn quanh co, vắng heo hút. Quy Nhơn còn lưu dấu nhiều vết tích của nhà thơ bạc mệnh này.


Một cái chết và những điều bất tử


Vốn là một làng tập trung các bệnh nhân mắc bệnh cùi (bệnh phong) được các nữ tu sỹ lập nên từ hơn một thế kỷ trước, tên tuổi làng phong Quy Hòa được nhiều người biết đến, cũng một phần bắt nguồn từ chuyện tình cờ gắn bó với cái chết của thi sỹ tài hoa Hàn Mặc Tử.


Hàn Mặc Tử trở thành một bệnh nhân của làng từ tháng 9/1940, đến 11/1940 thì qua đời trong bệnh tật. Căn phòng nơi Hàn trút hơi thở cuối cùng, nay trở thành nhà lưu niệm, vẫn giữ nguyên những đồ đạc đơn sơ ngày đó: chiếc giường cá nhân, chiếc ghế cùng vài vật dụng thông thường.


Đài tưởng niệm Hàn Mặc Tử ở khu mộ cũ.


Ông được chôn trong nghĩa địa của làng dưới chân núi Trứng. Theo lời kể của những người chứng kiến thời đó, mộ của ông cũng không có gì đặc biệt so với các bệnh nhân khác: một nấm đất nhỏ như kích cỡ của hàng trăm ngôi mộ khác, xếp theo dãy thứ tự, nằm lặng lẽ trong muôn vàn cái chết lặng lẽ của người mắc bệnh cùi – vốn không có gia đình, hay nhiều bè bạn khi cuối đời.


Suốt 19 năm Hàn nằm lại trong nghĩa địa làng phong. Theo lời kể của nhiều nhà nghiên cứu về cuộc đời và thơ Hàn, trong thời gian đó, do hoàn cảnh chiến tranh, đường giao thông không thuận lợi và điều kiện khó khăn, nên mãi đến ngày 13/01/1959, gia đình và bạn bè mới cải táng (bốc mộ) sang địa điểm mới cho người đã chết. Buổi lễ cải táng cho nhà thơ được tiến hành khá đơn giản: chỉ có hai người chị, hai người em, ba người bạn và một vị linh mục tham dự. 


Đến năm 1991, cố nhạc sỹ Trần Thiện Thanh (ca sỹ Nhật Trường) cùng một số nhạc sỹ khác yêu mến tài năng thơ trẻ này đã đóng góp tiền để xây dựng một ngôi mộ -  đài tưởng niệm, trên nền mộ cũ của Hàn. Quần thể mộ gồm một khoảng sân, phía chính giữa là đài tưởng niệm có hình tượng một cây bút, cây thánh giá dựng trên cuốn thơ. Những nét uốn lượn của cuốn sách thơ, bệ tượng đài, hình phù điêu bao quanh khu mộ cũng dễ liên tưởng đến hình tượng vầng trăng khi khuyết lúc đầy, vốn luôn thấp thoáng ẩn hiện trong thơ Hàn. 
Nhạc sỹ Trần Thiện Thanh vốn là một người rất yêu thơ Hàn. Những năm 1960, ông đã sáng tác bài hát nổi tiếng về Hàn Mặc Tử “Đường lên dốc đá nửa đêm trăng tà nhớ câu chuyện xưa...”. Người vợ của ông tên Nam Trân, nhưng hâm mộ thơ Hàn đến mức thêm ‘họ’ của nhà thơ vào trước tên mình thành Hàn Nam Trân. 


Theo lời của một số người bạn nhạc sỹ kể lại, cảm động vì số phận của một nhà thơ lớn suốt hàng chục năm phải nằm nhỏ nhoi, quạnh quẽ, sau một lần viếng thăm mộ Hàn Mặc Tử, nhạc sỹ đã sáng tác bài hát nói trên và đau đáu nuôi ý định: “Nơi một thi sỹ lớn đã sống những ngày cuối đời và nằm cô quạnh suốt hai mươi năm, chẳng lẽ không có một dấu vết gì để nhớ?”.

Điều ước cuối cùng chưa thoả 

Từ làng phong Quy Hòa, ngược dốc lên đường quốc lộ sát chân núi, rồi lại xuống dốc sang triền núi bên kia, qua quãng đường dăm cây số sẽ gặp khu mộ Hàn trên Ghềnh Ráng.

Theo lời kể của những người thân gia đình Hàn Mặc Tử, khi còn sống, Hàn đã từng tâm sự với bạn bè, muốn khi chết sẽ được chôn trên đèo Son (khu vực gần Cầu Đôi) là một địa điểm ở đầu thành phố Quy Nhơn, vì đó là khu vực dựa lưng vào núi, mặt quay ra biển. Nhớ lời Hàn năm xưa, sau khi bốc mộ, người thân của Hàn cũng muốn thực hiện ý muốn của người đã khuất, nhưng khi đó đèo Son là khu vực cấm (khu vực quân sự) nên mọi người đã chọn Ghềnh Ráng là khu vực cũng hội đủ những yếu tố như Hàn đã từng ao ước.


Dựng lều thơ bên mộ Hàn.

Từ Ghềnh Ráng, để lên đến mộ Hàn, du khách leo qua chừng hơn trăm bậc thang đá, giữa hai hàng cây song song chụm đầu vào nhau rì rào bốn mùa đón gió biển. Mộ Hàn nằm dựa lưng vào núi, nhìn bao quát cả dải bờ biển Quy Nhơn chạy dài trước mặt, hút trọn tầm mắt một phần thành phố Quy Nhơn. Dưới chân khu mộ, qua một vực đá thoai thoải với muôn vàn tảng đá nhiều hình thù xếp lớp, là sóng biển bốn mùa vỗ bờ.

Mộ rộng chừng dăm thước vuông, ốp đá đơn sơ, xung quanh tàn cây mát rượi. Dòng chữ lớn RIP (Rest in peace – Dịch nôm na: An nghỉ ngàn thu) màu trắng nổi bật trên nền đá ốp hồng. Phía trên đầu mộ là tượng Đức Mẹ Maria hiền từ nhìn xuống. Mộ chí không ghi tên ông là nhà thơ nổi tiếng mà chỉ ghi khiêm nhường “Đây an nghỉ trong tay Mẹ Maria: Hàn Mặc Tử, tức Phêrô Phanxicô Nguyễn Trọng Trí”.

Chàng thi sỹ dựng lều bên mộ 

Nhiều người dân ở Quy Nhơn nói rằng: “Hàn Mặc Tử sau khi chết hơn 60 năm vẫn không cô đơn”. Ai đó có thể không tin, nhưng nếu đã từng đến thăm mộ Hàn một lần, và gặp chàng thi sỹ bỏ nhà để lên dựng lều cạnh mộ Hàn, chỉ để thỏa ước muốn ngày đêm ngâm thơ Hàn, sưu tầm những tư liệu về Hàn Mặc Tử, thì sẽ tin câu chuyện “Hàn không cô đơn sau khi chết” là có thật.

Chàng thi sỹ đó là Trương Vũ Kha, hay còn gọi là Dzũ Kha, là “Bút lửa giữ thơ Hàn”. Vì quá yêu thơ Hàn mà người đàn ông trạc tuổi hơn 40, dáng người cao dong dỏng, có mái tóc dài đầy chất nghệ sỹ, vốn tốt nghiệp Đại học Mỹ thuật này, đã từ bỏ đô thị để về Ghềnh Ráng chăm sóc mộ Hàn.


Thi sỹ DZũ Kha.

Khu mộ được Vũ Kha trang hoàng bằng nhiều phiến đá, phiến gỗ khắc thơ cầu kỳ, nét chữ bay bướm. Vũ Kha cũng không khắc chữ thông thường bằng cách đục đẽo, mà anh khắc chữ bằng bút điện, bút lửa. Không chỉ dựng căn nhà gỗ đơn sơ bên mộ Hàn để ngày ngày chép lại thơ Hàn, quét dọn chăm sóc mộ Hàn, anh còn là hướng dẫn viên du lịch miễn phí cho du khách bỡ ngỡ tới lần đầu cần hướng dẫn. Cũng chính Kha là người đã tìm lại được nhiều tư liệu quý về Hàn Mặc Tử, như một số bản thảo các bài thơ do chính tay Hàn viết hơn 60 năm về trước.

Hỏi anh về nguyên nhân của việc “hâm mộ” Hàn Mặc Tử tới mức đó, Kha nhẹ nhàng đọc những vần thơ anh viết: “Bạn lên phố thị xênh xang. Riêng ta ở lại đa mang xứ Ghềnh. Phồn hoa náo nhiệt lãng quên. Họa thi bút lửa sưởi bên mộ Hàn”.  

Sáu mươi năm đã qua kể từ ngày Hàn Mặc Tử qua đời, theo lời kể của những người già trong khu vực, Ghềnh Ráng - làng phong Quy Hòa ngày ấy và bây giờ, vẫn mang dấu ấn Hàn Mặc Tử. Ra bãi biển Quy Hòa, lại chợt nhớ đây là nơi Hàn vẫn thường thơ thẩn mỗi chiều lẩm nhẩm những vần thơ; ngồi trên ngọn núi có những tảng đá lớn hình quả trứng bên những dãy nhà bệnh nhân cũ, lại chợt hỏi tảng đá này có phải Hàn đã từng ngồi chơi? Đêm ngắm trăng sáng bên Ghềnh Ráng, hiểu thêm nỗi đau của những người mắc bệnh cùi, cơn đau vật vã nhất thường kéo đến vào những tuần trăng...

Làng phong bây giờ được chia làm hai khu riêng biệt: khu điều trị bệnh nhân – hay còn gọi Bệnh viện phong – da liễu Trung ương Quy Hòa, và khu làng của những người đã khỏi bệnh, nhưng họ không trở về quê mà  tụ họp lại với nhau chọn nơi đây làm quê hương thứ hai của mình. Làng của những người đã lành bệnh có tên chính thức là Khu dân cư khu vực 2, phường Ghềnh Ráng. 


Lần đầu tới làng phong, nếu không được nói trước, khách phương xa có lẽ không biết được đây là ngôi làng của những con người đã từng bị xã hội ghẻ lạnh, hắt hủi, xua đuổi theo hủ tục nhiều năm về trước. Làng phong nay cũng bình yên như ngàn vạn ngôi làng trên đất nước, có đường làng rợp bóng cây, có mắt trẻ khúc khích dõi theo dáng người khách lạ, có những ngư dân ngừng tay đan lưới dưới hiên nhà nở một nụ cười chào khách mới đến, có chú chó vằn ngoáy đuôi rối rít đón chủ về... 


Làng bình yên như bức tranh trong thơ của Hàn mà ở đây, già trẻ gái trai ai cũng đều thuộc: “Trong làn nắng ửng khói mơ tan. Đôi mái nhà tranh lấm tấm vàng. Sột soạt gió trêu tà áo biếc. Trên giàn thiên lý bóng xuân sang”...(Theo Mai Minh)

Thứ Hai, 13 tháng 6, 2011

Huyền thoại Ghềnh Ráng

Ghềnh Ráng, bãi tắm Hoàng Hậu
Nhà tôi ở khu vực Đống Đa, học tiểu học ở trường Đống Đa. Khu Bãi Trứng Ghềnh Ráng là khá xa đối với chúng tôi thời bấy giờ, nhưng thỉnh thoảng chúng tôi cũng đạp xe xuống Bãi Trứng chơi. Lúc bấy giờ Bãi Trứng chưa có cổng bảo vệ, không phải mua vé vào và có rất nhiều mít. Mộ Hàn Mạc Tử còn đơn côi nằm vắt bên đồi nhìn xuống Bãi Trứng, Gềnh Ráng.

Ở vùng phía Nam bãi biển Qui Nhơn có một bãi biển thơ mộng, sơn thủy hữu tình, bà con ở đây thường gọi là bãi tắm Hoàng Hậu. Không như nhiều bãi biển khác chỉ có cát vàng mịn màng trải dài vô tận, bãi biển ở đây, trên lớp cát lại là hàng ngàn tảng đá to bằng thân người, có tảng hình tròn, nhiều tảng hình bầu dục, nhẵn, màu trắng hoặc xám có vân trứng cút nằm san sát bên nhau, tạo nên một vẻ đẹp kỳ diệu.

Vùng biển này trở thành một kỳ quan được du khách khắp nơi say mê chiêm ngưỡng. Nhưng có lẽ chưa ai biết được nơi đây còn có điều kỳ diệu hơn ẩn bên trong đó là một mối tình tuyệt vời nhưng cũng là bài ca ly biệt đầy khổ đau của một người thiếu nữ đã nhỏ máu tim mình làm đẹp cho đời...

Chuyện kể rằng, đã lâu lắm rồi, thuở ấy nơi này có một dòng sông nhỏ, nước sông bình lặng trong vắt chảy giữa đôi bờ cây cỏ tươi xanh.

Ở làng kia có một đôi trai tài gái sắc yêu nhau tha thiết. Vì những qui định khắc nghiệt của dòng tộc nên họ chẳng được cùng nhau sánh duyên. Nhưng tình yêu đã giúp họ vượt qua mọi trở lực ngang trái. Cô gái dịu hiền, thông minh, xinh đẹp đã từ bỏ cuộc sống nhung lụa giàu sang cùng chàng trai mồ côi tuấn tú trốn đến dòng sông hẻo lánh này cùng sinh sống nên vợ nên chồng. Họ sống yên ấm bên nhau dưới mái nhà lợp bằng lá dừa. Chàng trai ngày ngày đánh bắt cá tôm trên dòng sông, cô gái đảm đang chuyên cần việc ruộng vườn, đồng áng.

Một lần chàng trai đánh được một con cá to kỳ lạ. Họ mừng vui vì sẽ có đủ thức ăn khô dành cho mùa mưa bão. Khi mổ cá ra, họ còn vui sướng hơn vì đã nhặt được trong bụng cá một viên hồng ngọc sáng long lanh.

Được viên hồng ngọc quý, chàng trai lặng lẽ tự mài chuốt thành một chiếc nhẫn xinh đẹp, trên mặt nhẫn khắc hình đôi trái tim nhỏ, đỏ rực như một dòng máu đang chảy dạt dào.

Một đêm rằm trung thu, trăng thanh gió mát, họ cùng nhau dạo chơi bên dòng sông. Trên bãi cát, giữa trời đất bao la họ nằm bên nhau vui đùa, tỉ tê trò chuyện. Chàng trai lấy chiếc nhẫn quý, âu yếm trao vào tay người yêu và nói những lời có cánh:

- Ta trao cho em chiếc nhẫn này để em giữ làm tin. Đây là tấm lòng của ta công lao của ta, là tình yêu, là trái tim ta luôn ở bên em. Khi em thức nó sẽ thức cùng em. Khi em ngủ nó cũng ngủ bên em. Như ta mãi mãi bên nàng...

Cô gái lặng đi vì xúc động. Rồi họ ôm hôn nhau - Hôn êm đềm, tha thiết.

Bầu trời bát ngát, ánh trăng ngời ngời, dòng sông hiền hòa lấp lánh, bãi cát mênh mông, huyền ảo đã chứng giám cho mối tình nồng thắm của họ.

Khi yêu, ai lại không nghĩ đến hạnh phúc trọn đời và không gì có thể làm nhạt phai...

Một buổi sáng tinh mơ, sau cơn mưa, bình minh ló dạng. Phương Đông mặt trời từ từ nhô lên đỏ thắm như một viên hồng ngọc khổng lồ, một chiếc cầu vòng rực rỡ vắt ngang bầu trời, hào quang tỏa muôn hồng nghìn tía. Trước vẻ kỳ vĩ của tự nhiên, mọi người đều bàng hoàng. Chàng trai ngắm chiếc cầu vòng với niềm say mê chan chứa. Một ướt muốn kỳ lạ bỗng bừng dậy nôn nao trong lòng chàng khiến chàng đứng ngồi chẳng yên. Sự khao khát về một nơi sung sướng giàu sang kéo chàng đi dần vào cõi mộng mơ. Những ngày sau chàng đi đánh cá sớm hơn, và về nhà cũng muộn hơn như để được tự do tìm đến với vẻ đẹp cuốn hút của chiếc cầu vồng. Cô gái đã có lúc khóc thầm khi cảm nhận vẻ đột nhiên xa lạ lạnh lùng của người yêu. Những lời dịu ngọt âu yếm đã bay khỏi môi chàng tự lúc nào.

Một hôm chàng nói với nàng:

- Sống như thế này khổ quá. Tôi phải đi tìm cho chúng ta một cuộc sống sung sướng hơn. Nơi có chiếc cầu vồng hào quang kỳ lạ đó sẽ có chỗ cho ngôi nhà rực rỡ của chúng ta.

- Chàng ơi - nàng tha thiết van nài – Chàng đừng đi đâu xa nữa. Cuộc sống của chúng ta thế này là hạnh phúc lắm rồi. Em nào dám mơ ước gì hơn. Chàng đi sẽ gặp biết bao nhiêu gian truân và... cám dỗ, liệu chàng có trở về cùng em...

- Nàng đừng cản bước ta

Chàng nói dứt khoát và thâm tâm lại nghĩ đến nơi có chiếc cầu vồng rực rỡ. Ôi, chiếc cầu vồng ảo vọng của chí tang bồng đã kéo chàng trai vượt khỏi vòng tay yêu thương của người con gái dịu hiền. Sự cám dỗ như phép phù thủy nào đã làn ngu muội trí nhớ, khiến chàng trai đánh mất lời nguyện ước. Chàng đã ra đi không hẹn ngày trở lại, và chàng đã không bao giờ còn về được với kho báu vô giá - niềm hạnh phúc của đôi lứa đã kiếm tìm.

Ngày qua tháng lại, tin nhạn biệt tăm. Khổ đau thương nhớ đã làm tàn phai nhan sắc người con gái. Giọt máu của chàng trong nàng ngày một lớn lên, quẫy đạp nhắc nhở sự hiện diện của mối tình nồng thắm, khiến nàng càng thêm xót xa đau đớn. Nàng thẫn thờ lang thang tìm kiếm chàng dọc theo dòng sông. Nàng khóc than về nỗi bất hạnh của mình. Những dòng nước mắt mặn chát, nóng hổi của nàng tuôn xuống như mưa làm cho nước sông dâng tràn thành một vùng nước mặn mênh mông không bờ không bến. Những giọt nước mắt nhớ thương biến thành những con sóng dào dạt ngày đêm. Chúng từ bờ cát bơi ra mãi xa khơi kiếm tìm rồi lại trở về, thất vọng chìm sâu vào cồn cát cứ dâng đầy.

Nước mắt của người con gái đã cạn khô. Nàng như người vô thức. Một lần con dao thái rau đã cứa vào ngón tay đeo nhẫn của nàng. Qua dòng máu chảy ròng ròng, nàng bỗng nghe từ đâu đó có tiếng người yêu kêu khóc thảm thiết. Nàng thảng thốt bật dậy chạy đi khắp nơi tìm kiếm. Nàng đi đến đâu máu nhỏ đến đấy. Mỗi giọt máu rơi xuống cát liền đông cứng lại thành một hạt cát đỏ tươi. Phút chốc bãi cát trắng biến thành một vùng cát đỏ.

Khi trái tim cô gái nhỏ giọt máu cuối cùng thì nàng cũng đã gục xuống và thân thể liền tan hòa vào vùng cát đỏ. Những hạt cát đỏ ấy tự nhiên to lên như hòn sỏi rồi lớn dần thành từng tảng đá đỏ như những giọt máu khổng lồ. Khi gặp ánh mặt trời cả bãi đá bừng lên một nguồn ánh sáng hoàng hôn lộng lẫy mà mấy thiên niên kỷ qua chưa từng có. Chính vì vậy mà cái tên Gềnh Ráng trời cho trở thành cái địa danh cho người trước truyền lại cho người sau làm cánh cửa huyền bí cho một chuyện tình có một không hai trên thế gian này.

Biết bao mùa xuân đi qua, những nụ hoa mai nở vàng rồi rơi rụng lặn vào đất đai như bao kỷ niệm xóa nhòa theo thời gian. Vùng nước mặn bao la ở đây đã được gọi là biển cả. Muôn đợt sóng biển cuồn cuộn nỗi nhớ thương ngày đêm khôn nguôn dào dạt phủ tràn lên cùng đá đỏ, mài mòn những khía cạnh sần sùi của đá. Những giọt nước biển mặn mòi mang sắc đá đỏ khi cuốn ra khơi xa như kiếm tìm, nhưng rồi ngưng lại, kết tụ như rừng cây không lá không hoa, song vẫn không phai nhạt màu sắt son và đã chìm sâu vào lòng biển nơi nó phiêu dạt, mà người đời sau trìu mến gọi là san hô.

Qua nhiều thế kỷ, màu đỏ của đá bị sóng biển cuốn hết chỉ trơ lại sắc trắng và xám. Nhưng những tảng đá ấy vẫn giữ nguyên hình dạng ban đầu của giọt máu có tảng hình tròn, có tảng hình bầu dục, hình trái tim. Chúng giống như những quả trứng khổng lồ nằm xếp lên nhau nên người ta gọi là bãi Trứng.

Mãi về sau, có một vị hoàng đế trẻ trong một lần du ngoạn đã đến vùng này, tâm hồn lưu luyến trước cảnh trời biển mênh mông thẳm xanh vời vợi. Khi bình minh lên mặt trời tỏa rạng, nhìn thế núi trông xa như một tòa lâu đài cổ kính uy nghi, xung quanh cây cối xanh tươi như một vườn ngự uyển lộng lẫy, kín đáo. Vì vậy nhà vua đã chọn nơi đây làm bãi tắm cho người vợ yêu quý của mình.

Từ dạo ấy, bãi Trứng còn có thêm tên là bãi tắm Hoàng Hậu. Và ngày nay biết bao lứa đôi là "Hoàng đế, Hoàng hậu" đã đến đây ngoạn cảnh, tắm biển và còn đắm mình trong chuyện tình xa xưa mà lắm bạn chưa hay biết bởi còn vô tình. (Theo Xuân Mai, Báo Bình Định)

Bí đao khổng lồ Phù Mỹ, Bình Định

 
Những quả bí đao khổng lồ nặng hơn nửa tạ ở làng Chánh Trạch (Mỹ Thọ, Phú Mỹ, Bình Định) xuất hiện khiến nhiều thương lái từ khắp nơi đổ về “lùng” mua hàng chục tấn. Thậm chí còn có nhiều người về Chánh Trạch để săn mua… hạt giống.

“Hàng độc” bí đao
 
Phải nói sản vật “độc nhất vô nhị” biến cái thôn Chánh Trạch này thành làng đặc sản “ghi-nét” chính là những quả bí đao khổng lồ. Bí đao “hàng độc” nặng 20-30 kg một quả là chuyện bình thường. Ở đây có trái nặng trên 50 kg. Người dân làng nơi đây vẫn kháo nhau rằng bí rất sai quả. Một giàn bí đao trung bình trên dưới 50 quả, có giàn cả trăm quả. Do đó, muốn làm giàn cho những trái bí khổng lồ “ngự tọa”, người dân thôn Chánh Trạch 1, Chánh Trạch 2 phải mất rất nhiều công phu. Họ phải tận dụng khoảng 50-70 cây tre để làm giàn. Để đảm bảo độ vững chắc, dưới mỗi trái bí họ còn chống thêm những chiếc nạng tre.
 
Hiện, trên địa bàn xã Mỹ Thọ có đến hơn 100 hộ dân trồng loại bí đao khổng lồ này. Chẳng ai biết cái giống ngoại hạng này có mặt trên đất này từ bao giờ, nhưng theo những lão nông cao tuổi như ông Cao Thanh (72 tuổi) thì khi ông bé tí tẹo đã nhìn thấy cây bí đao này xuất hiện rải rác trong thôn. Ông bảo rằng, những năm sau ngày Giải phóng, ở thôn Chánh Trạch có chủ vườn bí có những quả bí đao dài như cái chum lớn, nặng gần cả tạ chứ chẳng ít. Nhưng lạ thay cũng hạt giống bí đao đó, nếu trồng tại Chánh Trạch thì kích cỡ quá khổ làm thiên hạ phải giật cả mình, vậy mà mang đi nơi khác thì nó lại trở về nguyên trạng như trái bí đao bình thường bán ở chợ, nặng chừng vài kg mà thôi.
Một giàn bí đao khổng lồ ở làng Chánh Trạch (Mỹ Thọ, Phú Mỹ, Bình Định)

Lão nông Cao Chư (80 tuổi) ở thôn Chánh Trạch 1 tâm sự: “Tôi trồng bí trọn cả đời làm nông của mình. Tôi tự hào về những trái bí khổng lồ mà mảnh đất này sinh ra nhưng chẳng biết vì sao nó lại to quá khổ lạ kì như thế. Lúc còn nhỏ, tôi vẫn thường thấy những vườn bí đao trong làng trái nào trái nấy cũng to như thế rồi. Thắc mắc, tôi hỏi cha tôi thì người cũng chỉ cười mà lắc đầu thôi. Nông dân chúng tôi mù mờ như thế đấy, chứ nếu có nhà nông học nào về đây nghiên cứu thì ắt biết vì sao bí đao nơi đây ‘đột biến’ lạ kì như thế!”. Anh Cao Thanh Truyền, Trưởng thôn Chánh Trạch 1, con trai ông cho biết thêm: “Toàn xã có 165 hộ thì hơn 100 hộ lấy nghề trồng bí đao làm nguồn thu nhập chính trong gia đình. Bí đao ở đây cho thu nhập cao hơn các loại cây trồng khác rất nhiều!”.

Đặc sản “ghi-nét” chữa bệnh
Anh Trực và bí đao khổng lồ của mình
Chức “quán quân” bí đao to nhất ở Mỹ Thọ năm nay phải dành cho anh Dương Công Trực (45 tuổi) ở thôn Chánh Trạch 2. Nhà anh thực sự chật chội khi chúng tôi ghé thăm bởi 60 quả bí đao vừa thu hoạch còn đang được xếp trong nhà, quả nào cũng nặng hơn 50 kg. Hớn hở, anh Trực tiết lộ: “Trồng bí đao bán được nhiều tiền là chuyện đương nhiên rồi. Nhưng thứ nước được tiết ra từ thân cây bí đao cũng là một loại thuốc ‘ngoại phương’ đấy. Nó có thể chữa trị các bệnh băng nhiệt, sỏi, viêm tiết niệu và giải rượu”.
 
Chị Nguyễn Thị Mười, Bí thư Chi bộ thôn Chánh Trạch 2 cũng thừa nhận lời anh Trực là đúng: “Sau khi thu hoạch hết quả, cắt dây bí đao cách mặt đất khoảng 1m rồi dùng chai, lọ hứng lấy nước, mỗi dây cho khoảng 1-2 lít nước. Nước bí hứng được cất vào can nhựa để trên 2 ngày cho nước lóng lại là có thể uống. Nhà nào trồng bí cũng làm như thế để dành cho con cháu uống mỗi khi có bệnh. Ai đi đường xa nắng nôi chi, chỉ cần uống một li nước bí đao là khỏe re. Sở dĩ bí đao ở đây cho nhiều nước vì đặc dây chứ ở những nơi khác không có được vì dây bí thường rỗng ruột”.
 
Mở hướng cho “thiên đường” bí đao
 
Mấy tháng trước, dù đồng đất Chánh Trạch cho người dân ở đây được sở hữu một giống bí đao khổng lồ đến “độc nhất vô nhị” nhưng xem ra người dân không mặn mà lắm với việc trồng bí bởi trái quá to, người dân ở chợ chẳng dám mua và giá cũng chỉ dao động từ 1.000-1.500 đồng một kg. Không ai nghĩ đến chuyện thâm canh vùng trồng bí thành vùng hàng hóa. Nhưng nay thì khác! Từ sau khi quả bí đao khổng lồ ở Chánh Trạch xuất hiện trên báo, nhiều tư thương ở khắp nơi tìm về thu mua rầm rộ.
 
Ông Nguyễn Ngọc Tuyên, Phó chủ tịch Uỷ ban nhân dân xã Mỹ Thọ, cho biết: “Vừa qua, Công ty cổ phần Thực phẩm Bình Tây ở TP HCM tìm về tận Chánh Trạch “vét” mua bí đao khổng lồ cả 20 tấn. Lúc này, những quả bí đao không còn sợ bị ế vì những tư thương đến Chánh Trạch chỉ mua những quả từ 20 kg trở lên. Chỉ chưa đầy một tháng, giá bí đao đã tăng vọt từ 1.500 lên 4.500đồng một kg. Do những năm trước đầu ra của bí đao khó khăn quá nên số hộ trồng bí đao ngày càng giảm dần, chỉ trồng đủ ăn trong nhà nên giờ không có bí mà bán.
 
Hiện, các giàn bí đao ở đây đã “sạch” trái, các nhà vườn đã bán hết, chỉ giữ lại vài trái để lấy hạt làm giống. Thậm chí còn có rất nhiều người đến từ các tỉnh miền Bắc lùng tìm mua hạt giống bí đao. Thế nhưng từ trước đến nay, dân Chánh Trạch có ai nghĩ có ngày này đâu mà để hạt giống bán. Nghe đâu như là bí đao Chánh Trạch đang được bà Lê Thị Giàu, Giám đốc Công ty cổ phần Thực phẩm Bình Tây đưa sang tiêu thụ thị trường nước ngoài. Nếu những quả bí đao khổng lồ của Chánh Trạch đã đi và được như vậy thì chắc chắn trong thời gian đến, các chủ nhà vườn ở đây sẽ phát triển mạnh mẽ việc trồng bí đao và người dân Chánh Trạch sẽ “sống” được từ sự tự hào của họ và làng đặc sản guiness này!”. 

Chình giống Mỹ Châu

Tôi mê món chình nướng ngay từ lần thưởng thức đầu tiên, đâu vào những năm đầu thập niên 90 của thế kỷ trước, do một ông già người Hoa chế biến ở cái quán nằm trên đường Bạch Đằng (TP Quy Nhơn). Quán có rượu ngâm đủ các thứ rắn, còn ông già nói tiếng Việt lơ lớ nên bọn tôi cứ gọi là quán “Dụ Dắn”. Quán “Dụ Dắn” chỉ tồn tại có vài năm nhưng món chình nướng thì đã ngấm vào vị giác của tôi cả một đời. Tháng 6 này, tôi về Châu Trúc kiếm chình và bỗng nhận ra mình “chỉ có ăn là giỏi”!
Đầm Trà Ổ, nơi trú ngụ hiếm hoi của con chình mun. 
Quả, nói về chuyện ăn chình, tôi dám tự hào mình thuộc hạng sành. Có bạn bè, thân hữu làm chứng, bởi có buổi tiệc lớn hay giỗ chạp nào ở nhà tôi mà không có món chình. Muốn có chình, tôi chỉ rút di động, a lô: “Chị Bích ơi, lấy giùm cho 1 kg (hay 2 kg) chình mun (hay bông) loại hai con (hay một con)!”. Vậy là vài giờ sau, trong nhà tôi đã có chình.
Chuyện chình ướp nướng hoặc chình um bắp chuối khế chua, vợ tôi vẫn thường “lấy điểm” trong mắt bạn bè. Nói chung, với tôi, chình là món ăn khoái khẩu! Cái mật chình đem bóp hòa vào rượu Bàu Đá nếp, xin lỗi, Heneiken lon cũng chỉ đáng để dùng “chữa lửa”. Lại nghe, chình mun là đặc sản của Châu Trúc, của Bình Định. Vậy mà cho đến những ngày trung tuần tháng 6 này, tôi mới có dịp đi Châu Trúc coi chình lớn lên như thế nào?
Anh em phóng viên báo tỉnh đi công tác Phù Mỹ thường nhờ Xuân Lộc, phóng viên “lão thành” của nhà đài ở huyện. Lần này, Xuân Lộc cũng hăng hái làm “cán bộ đường lối” cho tôi. Chúng tôi ghé xã Mỹ Châu, vị lãnh đạo xã đang tất bật với cuộc họp, chỉ kịp cho một lời hướng dẫn: “Muốn biết về con chình, cứ xuống xóm Cù Lao, thôn Châu Trúc, gặp ông Tú”. Chúng tôi trực chỉ về đầm Trà Ổ, băng qua con đường mới đến một doi đất nổi giữa mênh mông mặt đầm.
Nhà “ông Tú chình” tọa lạc trong một khu vườn rộng, hai phía giáp đầm. Anh Tú bận đi “tắm thuốc” cho chình ở nhà một bạn hàng trên thị trấn Bình Dương. Trong lúc đợi anh trở về, chúng tôi tranh thủ tham quan “trang trại chình”. Đó là một hệ thống gần chục chiếc bể xi măng cao chừng 1,2 m chứa chình đủ các kích cỡ cùng cá bống tượng. Những con chình trùi trũi nằm ẩn trong những chiếc ống nhựa. Thoạt nhìn thấy một con chình nằm ngửa, dáng lờ đờ, tôi đề nghị chị nhà anh Tú giúp cho món nướng thay bữa ăn trưa. Chị vui vẻ nhận lời. Thì ra, thỉnh thoảng anh chị cũng tiếp những người khách như chúng tôi, muốn được nhâm nhi món chình nướng, chình um ngay giữa đầm Trà Ổ lộng gió.
Anh Lê Trung Vinh, cán bộ kỹ thuật Trạm Thực nghiệm nuôi thủy sản Mỹ Châu, kiểm tra chình giống.
* Ở vựa chình giống số một
Anh Tú trở về và bữa tiệc cùng câu chuyện về con chình của chúng tôi kéo dài khi chị đi làm thêm con chình thứ hai, rồi con cá bống tượng, cá rô phi nướng mọi.
“Tú chình” tên thật là Võ Tuấn Tú, xuất thân là một ngư dân ở xã Phước Hòa, huyện Tuy Phước. 14 năm trước, từ một dự án nghiên cứu về con chình mun thực nghiệm ngay tại thôn Châu Trúc, Tú là tổ trưởng một tổ kỹ thuật 5 người. Dự án kết thúc song niềm đam mê con chình đã đưa đẩy anh trở thành cư dân xóm Cù Lao và giờ thành ông chủ của vựa chình giống số một Bình Định. Tú nói về chình thành thạo cứ như là một chuyên gia.
Qua anh Tú mà tôi biết chu kỳ sống rất đặc biệt của họ nhà chình: Sinh trưởng trong nước ngọt, đến tuổi trưởng thành, di cư ra vùng biển sâu để sinh sản. Trứng nở ra ấu trùng và trải qua quá trình biến thái phức tạp xảy ra trên con đường di cư từ biển về nơi sống của dạng trưởng thành trong các sông, suối, đầm, hồ nước ngọt. Chính vì vậy mà đã có bao công trình nghiên cứu cho chình sinh sản nhân tạo không cho kết quả thành công nào.
Bữa tiệc chình của chúng tôi phải kết thúc trước 15 giờ bởi các bạn hàng của anh Tú đã đến nhập hàng. Gần chục con người thoăn thoắt vào việc. Những con chình đủ các kích cỡ được nhốt trong những bao nilon có sục ôxy đưa đến vựa được anh nhanh chóng kiểm đếm, phân loại, sục ôxy nước đá cho vào bao, rồi đóng vào thùng xốp. Buổi chiều ấy, có chừng 50 kg chình được chia làm 3 kích cỡ đóng trong 5 chiếc thùng xốp gửi thẳng đi Cà Mau, Bạc Liêu. Loại 10 con/kg có giá bán 750 ngàn đồng, loại 30 con/kg giá 870 ngàn đồng và loại 50 con/kg giá 950 ngàn đồng!
Anh Tú cho biết, anh cung cấp chình giống cho các cơ sở nuôi chình chủ yếu là ở các tỉnh miền Tây Nam Bộ như: Cà Mau, Bạc Liêu, Cần Thơ, Sóc Trăng… Nghề nuôi chình ở Bình Định chưa phát triển mấy, số người nuôi chình thương phẩm mới chỉ đếm được trên đầu ngón tay, chủ yếu ở các huyện Vĩnh Thạnh, An Nhơn, An Lão, Tuy Phước… Nguyên nhân khiến người Bình Định chưa thật hít với nghề nuôi chình, theo anh Tú, là do vốn đầu tư lớn, thời gian thu hoạch dài… Đó là những thứ chỉ dành cho những người chăn nuôi biết kiên nhẫn.
Anh Võ Tuấn Tú phân loại chình giống trước khi xuất bán.
* Tiềm năng cho một nghề nuôi mới
Thu gom và cung cấp chình giống như kiểu anh Tú là một dạng mua đâu bán đó, hầu như không phải lo lắm về chuyện nuôi nấng, cho ăn, chữa bệnh cho con chình. Chình giống của anh Tú xuất đi cũng không lo việc “bảo hành”; người mua chấp nhận một tỉ lệ hao hụt, thậm chí khá lớn. Tuy nhiên, ở ngay địa phận xã Mỹ Châu, cách không xa đầm Trà Ổ là mấy, có một địa chỉ hướng đến việc cung cấp giống chình một cách bài bản, “bảo hành” và thậm chí là chuyển giao công nghệ nuôi. Địa chỉ đó là Trạm Thực nghiệm nuôi thủy sản Mỹ Châu thuộc Trung tâm Giống thủy sản Bình Định.
Hơn ai hết, từ lâu Trung tâm Giống thủy sản cũng đã hiểu rằng tỉnh nhà đang sở hữu nguồn cá chình bột tự nhiên nhiều thuộc loại nhất, nhì trong cả nước. Chính vì vậy, việc nghiên cứu xây dựng quy trình kỹ thuật ương cá chình bông giai đoạn từ cá bột đến cá hương và từ cá hương đến cá giống nhằm sử dụng hiệu quả nguồn giống này là vấn đề cấp thiết, mở ra một hướng phát triển kinh tế mới cho nghề nuôi trồng thủy sản. Và đề tài nghiên cứu khoa học cấp tỉnh: “Nghiên cứu mùa vụ, địa điểm xuất hiện cá chình bột và xây dựng quy trình ương nuôi cá chình bông bột tại Bình Định”, do kỹ sư Phan Thanh Việt, Phó Giám đốc Trung tâm, làm Chủ nhiệm, được Chủ tịch UBND tỉnh phê duyệt từ tháng 5.2009. Qua nghiên cứu đề tài cho thấy, điều tuyệt vời là trên thế giới không có nhiều khu vực phân bố của con chình (chủ yếu là chình bông) như dải đất miền Trung mà đặc biệt là hai tỉnh Bình Định và Phú Yên. Riêng con chình mun (một loại chình quý hiếm được xếp vào danh mục các loài nguy cấp trong Sách đỏ Việt Nam) lại chỉ phân bố ở vùng Châu Trúc. Ở Bình Định, hàng năm cá chình bột xuất hiện từ tháng 12 năm trước đến tháng 8 năm sau (tập trung nhất là tháng 2) ở hầu hết các đập ngăn sông (khu vực hạ lưu), chủ yếu ở các đập Gia Phu, Bảy Yển, Cây Dừa, Lại Giang, Đức Phổ. Từ lâu, đã có nhiều ngư dân sử dụng vợt, lưới trũ, vó hoặc chà bổi để thu vớt, đánh bắt cá chình bột bán cho các vựa thu gom rồi phân phối cho các nhà nuôi ương (chủ yếu ở ngoại thành TP Hồ Chí Minh) thành cá chình giống.
Thực hiện đề tài này, hai năm qua, Trạm Thực nghiệm nuôi thủy sản Mỹ Châu đã tiến hành ương nuôi 4.000-5.000 con từ chình hương sang chình giống. Chúng tôi được Trạm trưởng Nguyễn Văn Thuận đưa đi tham quan các bể nuôi. Những con chình phát triển khá tốt bằng thức ăn nhân tạo đã lớn bằng đầu đũa. Đặc biệt, loài chình vốn chỉ ăn vào ban đêm song việc thay đổi tập tính bằng các phản xạ có điều kiện, các cán bộ kỹ thuật nơi đây đã có thể cho chình ăn ngay vào ban ngày - một cơ sở tốt giúp chình tăng trưởng nhanh chóng trong quá trình nuôi thương phẩm.
Gặp kỹ sư Phan Thanh Việt, anh cho biết, đang chuẩn bị báo cáo nghiệm thu đề tài. Theo anh, cá chình bông giai đoạn từ cá bột đến cá hương tăng trưởng chậm và có sự hao hụt lớn do thức ăn cho giai đoạn này chưa phù hợp; cá chình bị sốc môi trường khi chuyển vào môi trường nhân tạo, yếu tố dịch bệnh... Tuy nhiên, sau khi hình thành được cá chình giống (5-15 g/con), chất lượng con giống sẽ rất tốt, bảo đảm tỉ lệ hao hụt thấp, tăng trưởng nhanh khi nuôi thương phẩm.
Hy vọng, sự thành công của đề tài ương nuôi chình bông này sẽ mở ra phong trào nuôi cá chình bông thương phẩm mạnh mẽ hơn tại Bình Định; bởi với 340 ngàn đồng/kg chình thương phẩm hiện nay, chình bông đang đứng đầu giá trị trong các loài cá. Theo Quang Khanh - Xuân Lộc (Báo Bình Định)

Chủ Nhật, 22 tháng 5, 2011

CA KHÚC: BÌNH ĐỊNH QUÊ TÔI


Ca khúc Bình Định Quê Tôi, sáng tác Cố NS Xuân Điềm & Anh Dũng, Khánh Ly trình bày

Bình Định

Diện tích: 6039,6 km²
Dân số: 1.485.943 người (1/4/2009)
Tỉnh lỵ: Thành phố Quy Nhơn.
Các huyện: An Lão, Hoài Ân, Hoài Nhơn, Phù Mỹ, Phù Cát, Vĩnh Thạnh, Tây Sơn, Vân Canh, An Nhơn, Tuy Phước.
Dân tộc: Việt (Kinh), Chăm, Ba Na, Hrê.

Điều kiện tự nhiên

Là một tỉnh duyên hải miền Trung, phía bắc giáp Quảng Ngãi, phía tây giáp Gia Lai, phía nam giáp Phú Yên, phía đông giáp biển Đông. Địa hình Bình Định đa dạng có vùng núi, vùng giáp núi, vùng đồng bằng và vùng bãi bồi ven biển. Bờ biển Bình Định dài hơn 100km với nhiều đảo lớn, nhỏ ngoài khơi. Nhiệt độ trung bình cả năm là 26ºC - 28ºC. Lượng mưa trung bình năm là 1.700 – 1.800mm. Mùa mưa từ tháng 8 đến tháng 12, tập trung 70 - 80% lượng mưa cả năm.




Phong cảnh Bình Định Bãi biển Quy Nhơn


Tiềm năng phát triển kinh tế

Bình Định có nhiều đặc sản nổi tiếng gần xa như: tơ lụa, yến sào, tôm, cá, gỗ quí, trầm hương, dầu thực vật, gạo, đá ốp lát và hàng thủ công mỹ nghệ. Bình Ðịnh có nguồn tài nguyên thiên nhiên và nhân văn rất phong phú để phát triển du lịch. Có bờ biển dài với nhiều vũng, vịnh, bãi tắm đẹp và danh lam thắng cảnh như: Ghềnh Ráng, Bán đảo Phương Mai, bãi tắm Hoàng Hậu, Tam Quan, Ðảo Yến, Quy Hòa, Bãi Dài…. Có suối nước nóng Hội Vân thuộc huyện Phù Cát.


Dân tộc, tôn giáo

Bình Định là tỉnh có nền văn hóa lâu đời, nơi đây còn lưu giữ nhiều di tích kiến trúc văn hóa của người Chăm, đặc biệt là thành cổ Trà Bàn, nơi đã từng là cố đô của vương triều Chămpa. Các cụm thác Chàm có kiến trúc độc đáo như : tháp Dương Long, Bánh Ít, Cánh Tiên, tháp Đôi. Bình Định là quê hương của người anh hùng dân tộc Quang Trung – Nguyễn Huệ đã từng vào Nam đánh tan quân xâm lược Xiêm ở Xoài Mút, ra Bắc phá tan 29 vạn quân Thanh thống nhất đất nước. Bình Định còn là một cái nôi của nghệ thuật tuồng, dân ca bài chòi, của điệu múa trống trận Quang Trung độc đáo và môn phái võ Tây Sơn, thể hiện tính cách và sức sống mãnh liệt của người dân vùng đất này.




Bảo tàng Quang Trung Tháp Bánh Ít

Giao thông

Cách thủ đô Hà Nội 1.065km, cách Tp. Hồ Chí Minh 680km, Bình Định có đường giao thông thuận tiện, quốc lộ 1A chạy qua tỉnh, quốc lộ 19 nối Quy Nhơn với các tỉnh Tây Nguyên: Gia Lai và Kon Tum. Tàu Thống Nhất dừng tại ga Diêu Trì cách Quy Nhơn 11km. Sân bay Phù Cát cách Quy Nhơn 36km về phía bắc. Hiện nay ngày nào cũng có chuyến bay Quy Nhơn – Tp. Hồ Chí Minh và ngược lại. Cảng biển Quy Nhơn là một cảng lớn của khu vực Nam Trung bộ.